Cách tính EPS khi chia, táchh, thưởng cổ phiếu và phát hành quyền mua
EPS (thu nhập trên mỗi cổ phiếu) là một trong những chỉ tiêu được sử dụng thường xuyên nhất đối với các NĐT và có ảnh hưởng lớn đối với giá cổ phiếu công ty. Tuy nhiên, chuẩn mực kế toán Việt Nam và các hướng dẫn về EPS vẫn chưa đầy đủ, việc triển khai thực hiện còn một số bất cập. Kết quả là NĐT nhận được báo cáo tài chính với EPS không chính xác và không đầy đủ. Tác giả Trần Xuân Nam đã dành cho ĐTCK bài viết này nhằm phân tích những bất cập đó, giúp bạn đọc, các nhà làm chuẩn mực kế toán Việt Nam có cái nhìn chính xác và đầy đủ hơn về EPS.
Tầm quan trọng của EPS
EPS là một trong những chỉ tiêu được trích dẫn thường xuyên nhất trong phân tích tài chính vì chỉ số P/E được sử dụng rộng rãi như một tiêu chuẩn so sánh cho các quyết định đầu tư. Do vậy, việc tính toán và trình bày EPS có thể ảnh hưởng quan trọng đến giá cổ phiếu của công ty. EPS còn được dùng như một công cụ để đánh giá việc thực hiện của ban điều hành công ty. Tiền thưởng của HĐQT, ban điều hành có thể trên cơ sở sự tăng trưởng EPS. Bởi vậy, nó tạo một sức ép rất lớn đối với ban điều hành công ty trong việc tăng trưởng EPS. Ban điều hành có thể cố tình tạo một kết quả EPS có lợi hơn cho mình và công ty. Khi nghiên cứu về EPS cần lưu ý, mục tiêu chính của EPS là để đánh giá kết quả thực hiện của một công ty và nó đặc biệt quan trọng để so sánh kết quả của một công ty qua các kỳ khác nhau và so sánh việc thực hiện của vốn chủ sở hữu của công ty với công ty khác.
Cách tính EPS cơ bản
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 30 và Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 33, EPS cơ bản được tính bằng cách chia tổng lãi (lỗ) thuần thuộc các cổ đông phổ thông cho số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông lưu hành trong kỳ.
Theo Thông tư số 21/2006/TT-BTC hướng dẫn Chuẩn mực VAS 30, tổng số lãi thuần phân bổ cho các cổ đông phổ thông là lãi (lỗ) thuần sau thuế thu nhập doanh nghiệp trừ đi các số điều chỉnh giảm là cổ tức của cổ phiếu ưu đãi và cộng thêm các khoản điều chỉnh tăng liên quan đến khoản chênh lệch mua cổ phiếu ưu đãi.
Thông tư 21 không đề cập đến việc phải điều chỉnh giảm các khoản lãi không dành cho cổ đông phổ thông như quỹ khen thưởng khách hàng, quỹ thưởng cho HĐQT, đặc biệt là quỹ khen thưởng phúc lợi dành cho nhân viên. Những khoản này, theo chuẩn mực kế toán quốc tế, được ghi nhận là các khoản chi phí để trừ ra khỏi lãi dành cho cổ đông. Sau một năm hoạt động có lãi, các công ty thường dành 5 - 15%, thậm chí 20% tổng số lãi thuần sau thuế để chi cho nhân viên dưới hình thức chia cho quỹ khen thưởng, phúc lợi.
Riêng quỹ dự phòng tài chính, hiện nay, Luật Doanh nghiệp không quy định cụ thể về mức trích lập quỹ này trong các CTCP nói chung, nhưng nhiều loại hình DN vẫn thực hiện trích lập quỹ này như một cách để góp phần điều tiết thu nhập của DN. Đây là quỹ thuộc sở hữu của các cổ đông phổ thông và không phải loại trừ ra khỏi lãi khi tính EPS.
Trường hợp gộp, chia tách và thưởng cổ phiếu, theo Thông tư 21, sẽ không có bất cứ một sự tăng, giảm về dòng tiền hay tài sản và nguồn vốn đối với công ty. Bởi vậy, trong những sự kiện đó thì cổ phiếu gộp, chia tách, thưởng dù phát sinh bất cứ thời điểm nào trong kỳ cũng phải được tính vào ngày đầu tiên của năm báo cáo. Đồng thời, điều chỉnh tương ứng cho số cổ phiếu của những năm trước để có tính so sánh giữa các năm. Thông tư 21 không đề cập đến việc chia cổ tức bằng cổ phiếu, nhưng bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu cũng giống như thưởng cổ phiếu, điều này được ghi rất rõ trong chuẩn mực kế toán quốc tế. Do đó, hướng dẫn kế toán Việt Nam nên bổ sung việc chia cổ tức bằng cổ phiếu để việc thực hiện tại các công ty được dễ dàng hơn.
Ví dụ, công ty A có 10 triệu cổ phiếu, ngày 30/6/2008 công ty quyết định chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 20% (100 CP hiện hữu được chia 20 CP mới). Tổng số lãi của công ty năm 2008 và 2007 tương ứng là 40 tỷ đồng và 34 tỷ đồng. Kỳ kế toán từ ngày 1/1 đến 31/12 hàng năm. EPS năm 2008 và EPS tương ứng năm 2007 sẽ là 3.333 đồng và 2.833 đồng (xem bảng).
Ghi chú: * Mặc dù thưởng hay chia cổ tức bằng cổ phiếu được thực hiện ngày 30/6/2008, nhưng khi lập báo cáo tài chính năm 2008, công ty sẽ phải tính số cổ phiếu tăng thêm ngay từ ngày đầu năm 1/1/2008. Nếu lập báo cáo quý II/2008, tính EPS của 4 quý gần nhất cho đến ngày 30/6/2008 thì số cổ phiếu tăng thêm này được tính từ ngày 1/7/2007.
** Trong báo cáo tài chính năm 2008, để thấy được xu hướng EPS qua các năm, chúng ta phải điều chỉnh lại EPS năm 2007 và các năm trước đó bằng cách tăng số cổ phiếu thưởng của năm 2008 vào cả năm 2007 và các năm trước đó. Nếu không điều chỉnh số 2 triệu cổ phiếu thưởng cho năm 2007, thì EPS gốc 2007 là 3.400 đồng, cao hơn so với năm 2008, sẽ không phản ánh đúng xu hướng EPS.
Phát hành quyền mua (rights issue)
Đó là phát hành quyền mua cổ phiếu mới cho các cổ đông hiện hữu với giá thấp hơn giá thị trường hiện tại. Do vậy, ở đây đã bao gồm một yếu tố thưởng. Để tính EPS khi phát hành quyền mua, đầu tiên chúng ta cần tính giá quyền mua lý thuyết.
Ví dụ: Công ty HAP có 3.850.250 CP đang lưu hành từ đầu năm 2006. Ngày 16/6/2006, HAP phát hành thêm 1.925.125 CP (2 CP hiện hữu được quyền mua 1 CP mới) với giá 25.000 đồng/CP. Giá cổ phiếu ngày cuối cùng chốt danh sách phát hành ngày 15/6/2006 là 55.000 đồng/CP. Yêu cầu tính: 1) Giá lý thuyết quyền mua 1 CP? 2) EPS năm 2006? Biết rằng, lãi thuần sau thuế năm 2006 là 16 tỷ đồng. 3) Tính EPS điều chỉnh cho năm 2005 và 2004? Biết rằng, lãi thuần năm 2005 là 14,58 tỷ đồng và EPS gốc năm 2004 là 4.492 đồng.
Lời giải:
1. Giá lý thuyết quyền mua 1 CP:
- Trước khi phát hành: 2 CP x 55.000 = 110.000 đồng.
- Phát hành quyền mua: 1 CP x 25.000 = 25.000 đồng.
- Giá trị lý thuyết của 3 CP = 110.000 + 25.000 = 135.000 đồng.
- Giá quyền mua lý thuyết mỗi cổ phiếu bình quân = 135.000/3 = 45.000 đồng.
2. Tính EPS cho năm 2006:
- Số cổ phiếu trước ngày phát hành quyền mua là 3.850.250 CP sẽ được nhân với tỷ lệ giữa giá thị trường ngày cuối cùng trước khi phát hành (55.000 đồng/CP) và giá lý thuyết quyền mua (45.000 đồng/CP).
- Số cổ phiếu bình quân của cả năm được tính theo 2 giai đoạn: giai đoạn 1, từ 1/1 - 15/6/2006, tức 5,5 tháng: 3.850.250 CP x 5,5/12 tháng x 55/45 = 2.156.853 CP; giai đoạn 2, từ 15/6 - 31/12/2006, tức 6,5 tháng: (3.850.250 + 1.925.125) x 6,5/12 tháng = 3.128.328 CP. Vậy, số cổ phiếu lưu hành bình quân trong năm = 5.285.181 CP.
- EPS năm 2006 = 16 tỷ đồng/5.285.181 CP = 3.027 đồng.
Lưu ý, nếu tính theo quy định hiện hành, số cổ phiếu giai đoạn 1 không điều chỉnh nhân với hệ số thưởng 55/45. Do đó, số cổ phiếu giai đoạn 1 chỉ là: 3.850.250 x 5,5/12 tháng = 1.764.698 CP, nên số cổ phiếu bình quân năm 2006 sẽ là: 1.764.698 + 3.128.328 = 4.893.026 CP. Vì vậy, EPS 2006 tính theo cách không điều chỉnh hệ số thưởng sẽ là: 6 tỷ đồng/4.893.026 = 3.270 đồng.
3. Tính EPS điều chỉnh cho năm 2005 và năm 2004:
- EPS điều chỉnh = EPS gốc x (Giá quyền mua lý thuyết/Giá thị trường ngày cuối trước khi phát hành mới).
- EPS gốc năm 2005 = 14,58 tỷ đồng/3.850.250 = 3.787 đồng.
- EPS điều chỉnh năm 2005 = 3.787 đồng x 45/55 = 3.098 đồng.
- EPS điều chỉnh năm 2004 = 4.492 đồng x 45/55 = 3.675 đồng.
Cách tính EPS cơ bản khi phát hành cổ phiếu thưởng (đơn vị: triệu)
EPS pha loãng (diluted EPS)
Cuối kỳ kế toán, một công ty có thể có một số chứng khoán mà ở thời điểm hiện tại chưa có quyền được đòi chia lãi như cổ phiếu phổ thông, nhưng nó sẽ chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông trong tương lai. Những chứng khoán này bao gồm: Thứ nhất, các trái phiếu chuyển đổi hoặc các cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi mà chúng cho phép chủ sở hữu nó có quyền, ở một ngày tương lai, được chuyển đổi những chứng khoán này thành các cổ phiếu phổ thông, với một tỷ lệ chuyển đổi đã định sẵn. Thứ hai, các hợp đồng lựa chọn (options hoặc warrants). Trong những trường hợp này, số cổ phiếu phổ thông có thể được tăng lên, dẫn đến việc giảm EPS hay EPS bị pha loãng. EPS pha loãng sẽ chỉ cho các nhà đầu tư những ảnh hưởng có thể có của việc pha loãng EPS trong tương lai, rất cần thiết cho quyết định đầu tư.
Cách tính EPS pha loãng:
- Thứ nhất, tính lãi. Lãi dùng để tính EPS cơ bản được điều chỉnh bởi các ảnh hưởng sau thuế của các khoản: lãi suất tiền vay trong kỳ của trái phiếu chuyển đổi tiềm năng; cổ tức của cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi tương lai mà chúng đã được trừ ra khỏi khi tính lãi cho EPS cơ bản; các khoản thay đổi khác trong thu nhập và chi phí (phí, chiết khấu, tiền thưởng) mà chúng là kết quả của việc chuyển đổi các trái phiếu chuyển đổi hay cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông.
- Thứ hai, tính số cổ phiếu. Đó là số bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông dùng để tính EPS cơ bản cộng với bình quân gia quyền của các cổ phiếu phổ thông mà chúng sẽ được phát hành từ việc chuyển đổi tất cả các trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi thành các cổ phiếu phổ thông. Chúng ta giả định các cổ phiếu tiềm năng này sẽ được chuyển đổi thành các cổ phiếu phổ thông vào ngày đầu tiên của kỳ báo cáo.
Ví dụ: Ngân hàng ACB năm 2007 có lãi thuần sau thuế là 1.680 tỷ đồng và có khối lượng cổ phiếu lưu hành bình quân là 198,8 triệu CP, EPS cơ bản năm 2007 là 8.451 đồng. ACB đã phát hành hai đợt trái phiếu chuyển đổi với tổng số tiền là 1.900 tỷ đồng, lãi suất 10%/năm và sẽ chuyển đổi thành 190 triệu cổ phiếu phổ thông trong vòng 2 - 5 năm tới. Tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp là 28%. Tính EPS pha loãng của ACB?
Lời giải:
1. Tính số cổ phiếu phổ thông: 198,8 triệu CP + 190 triệu CP = 388,8 triệu CP.
2. Tính số lãi thuần:
Số lãi hiện tại: 1.680 tỷ đồng.
Lãi suất tiền vay tiết kiệm: 1.900 tỷ đồng x 10% = 190 tỷ đồng.
Thuế thu nhập doanh nghiệp trên phần lãi vay: 190 tỷ đồng x 28% = 53,2 tỷ đồng.
Vậy, lãi thuần sau điều chỉnh là: 1.680 + 190 - 53,2 = 1.816,8 tỷ đồng.
3. EPS pha loãng = 1.816,8 tỷ đồng/388,8 triệu CP = 4.673 đồng.
Như vậy, EPS pha loãng thấp hơn EPS cơ bản là: 8.451 - 4.673 = 3.778 đồng.
Trình bày EPS
Ở chuẩn mực kế toán Việt Nam chỉ mới đề cập đến tên gọi EPS pha loãng, chứ chưa có hướng dẫn về cách tính và trình bày. Các công ty vì vậy chưa báo cáo EPS pha loãng. Điều này làm cho nhà đầu tư phải đọc các báo cáo tài chính không đầy đủ và do vậy, có thể ảnh hưởng lớn đến các quyết định đầu tư.
Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư, chúng tôi đề nghị Bộ Tài chính, UBCKNN, Sở GDCK TP. HCM và TTGDCK Hà Nội cần có hướng dẫn rõ ràng cách tính EPS cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 33 yêu cầu bắt buộc báo cáo lãi lỗ của các công ty phải trình bày cả hai chỉ tiêu EPS cơ bản và EPS pha loãng trên bề mặt của báo cáo kết quả kinh doanh với mức độ nổi bật như nhau.
- Báo cáo tài chính hàng quý cũng cần phải được trình bày tương tự như đã nói ở trên. Đặc biệt lưu ý các khoản lãi không thuộc cổ đông như quỹ khen thưởng, phúc lợi cần phải được ghi giảm khỏi lãi để tính EPS ngay trong các báo cáo quý, chứ không đợi đến cuối năm. Đầu năm, ĐHCĐ thường niên đã đưa ra kế hoạch phân phối lãi cho năm tới (mặc dù chưa chính thức). Ví dụ, công ty S đưa ra nguyên tắc trích 10% lợi nhuận sau thuế cho quỹ khen thưởng, phúc lợi. Nếu trong quý I, công ty S có lãi sau thuế 100 tỷ đồng thì báo cáo kết quả nên trình bày thêm dòng "lãi không dành cho cổ đông" hoặc "lãi dành cho quỹ khen thưởng, phúc lợi": 10% x 100 tỷ đồng = 10 tỷ đồng; lãi dành cho cổ đông (để tính EPS) là: 100 tỷ đồng - 10 tỷ đồng = 90 tỷ đồng.
Theo Trần Xuân Nam, Maastricht MBA
Trần Xuân Nam, Maastricht MBA
Trần Xuân Nam, Maastricht MBA
Quy trình đấu giá khi thực hiện IPO
Quy trình đấu giá cổ phần khi một doanh nghiệp thực hiện IPO ra công chúng như sau:
1. Các phương thức đấu giá:
1. Các phương thức đấu giá:
Có 3 phương thức tổ chức đấu giá: căn cứ vào giá trị cổ phần bán đấu giá và quyết định của Ban chỉ đạo cổ phần hóa.
- Tại doanh nghiệp
- Tại tổ chức tài chính trung gian (Công ty chứng khoán)
- Tại Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao dịch chứng khoán
Bước 1: Chuẩn bị đấu giá
- Cơ quan quyết định cổ phần hóa/Ban chỉ đạo cổ phần hóa xác định giá khởi điểm của cổ phần đấu giá.
- Công bố thông tin về doanh nghiệp chuẩn bị tổ chức đấu giá tối thiểu 20 ngày trước ngày tổ chức đấu giá.
- Phối hợp với cơ quan tổ chức đấu giá thuyết trình về doanh nghiệp cho nhà đầu tư nếu cần.
Bước 2: Thực hiện đấu giá
- Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành nhận đơn đăng ký mua và tiền đặt cọc của nhà đầu tư theo quy chế đấu giá.
- Nhà đầu tư bỏ phiếu tham dự đấu giá bằng các hình thức: Bỏ phiếu trực tiếp tại doanh nghiệp (nếu tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp); Bỏ phiếu trực tiếp tại tổ chức tài chính trung gian (nếu tổ chức đấu giá tại tổ chức tài chính trung gian); Bỏ phiếu trực tiếp tại Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao dịch chứng khoán và các đại lý được chỉ định; Bỏ phiếu qua đường bưu điện do cơ quan tổ chức đấu giá quy định.
Bước 3: Tổ chức đấu giá và xác định kết quả đấu giá
- Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành các thủ tục bóc phiếu tham dự đấu giá và nhập các thông tin vào phần mềm đấu giá.
- Xác định kết quả đấu giá theo nguyên tắc lựa chọn giá đặt mua từ cao xuống thấp đến khi đủ số lượng cổ phần chào bán. Tại mức giá trúng thầu thấp nhất, với trường hợp các nhà đầu tư cùng đặt mức giá bằng nhau, nhưng tổng số cổ phần còn lại ít hơn tổng số cổ phần đăng ký mua thì số cổ phần của từng nhà đầu tư được mua xác định như sau:
Số cổ phần nhà đầu tư được mua = Số cổ phần còn lại x (Số cổ phần từng nhà đầu tư đăng ký mua/Tổng số cổ phần các nhà đầu tư đăng ký mua)
- Lập các biên bản liên quan đến buổi đấu giá gửi cho cơ quan quyết định cổ phần hóa, Ban chỉ đạo cổ phần hóa, doanh nghiệp và cơ quan tổ chức đấu giá
- Công bố kết quả đấu giá cổ phần và thu tiền mua cổ phần.
Bước 4: Xử lý các trường hợp vi phạm quy chế đấu giá
- Việc xử lý các trường hợp vi phạm được thực hiện theo quy định của quy chế đấu giá.
- Nhà đầu tư không được nhận tiền đặt cọc nếu vi phạm quy chế đấu giá.
Bước 5: Xử lý đối với số cổ phần không bán hết trong đấu giá nếu có
- Nếu sổ cổ phần nhà đầu tư từ chối mua nhỏ hơn 30% tổng số cổ phần chào bán thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa thực hiện bán tiếp cho các nhà đầu tư đã tham dự đấu giá theo phương thức thỏa thuận với giá không thấp hơn giá đấu thành công bình quân của cuộc đấu giá.
- Nếu số lượng cổ phần nhà đầu tư trúng thầu từ chối mua từ 30% tổng số cổ phần chào bán trở lên thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa xem xét, quyết định tổ chức bán đấu giá tiếp số cổ phần từ chối mua (đấu giá lần 2). Giá khởi điểm trong trường hợp đấu giá lần 2 này không được thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất.
2. Dịch vụ đấu giá
Bước 1: Nhà đầu tư nhận và điền đầy đủ thông tin vào “PHIẾU ĐĂNG KÝ THAM GIA ĐẤU GIÁ MUA CỔ PHẦN” theo mẫu.
Bước 2: Nhà đầu tư nộp tiền đặt cọc (tiền mặt hoặc chuyển khoản) đến 1 trong các tài khoản của VPBS, với nội dung: nộp tiền đấu giá
Ví dụ: Trần Văn A, số chứng minh thư 012345678, nộp tiền đấu giá 5000 cổ phần Công ty TMCP Đầu tư ABC.
Bước 3: Nhà đầu tư nộp Bộ hồ sơ Đăng ký đấu giá cho Bộ phận Giao dịch của VPBS.
Lưu ý: Nhà đầu tư chuẩn bị đầy đủ BỘ HỒ SƠ ĐĂNG KÝ ĐẤU GIÁ khi nộp, bao gồm:
-> Đối với cá nhân:
- 01 bản chính “Phiếu đăng ký tham gia đấu giá mua cổ phần” hợp lệ
- 01 bản sao Giấy nộp tiền mặt hoặc Ủy nhiệm chi
- 01 bản sao giấy CMND hoặc Hộ chiếu
- 01 Giấy ủy quyền (nếu có)
-> Đổi với pháp nhân:
- 01 bản chính “Phiếu đăng ký tham gia đấu giá mua cổ phần” hợp lệ
- 01 bản sao Giấy phép Đăng ký kinh doanh, và/hoặc các giấy tờ pháp lý theo yêu cầu
- 01 bản sao Giấy nộp tiền mặt
- 01 bản sao giấy CMND hoặc Hộ chiếu của người đại diện pháp luật
- 01 bản sao Giấy ủy quyền cho người đại diện thay mặt tổ chức
-> Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
- Có xác nhận của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trên “Phiếu đăng ký tham gia đấu giá mua cổ phần”.
Bước 4: Nhận và bỏ “PHIẾU THAM DỰ ĐẤU GIÁ”
- Nhà đầu tư lưu ý Bỏ phiếu trước thời hạn Bỏ phiếu đấu giá (có ghi trên Quy chế đấu giá và Thông báo đấu giá)
- Nhà đầu tư xuất trình: Biên lai nộp tiền cọc, Giấy CMND, giấy Ủy quyền (nếu có).
- Nhà đầu tư nhận: “PHIẾU THAM DỰ ĐẤU GIÁ” (phiếu xanh).
Bước 5: Đặt giá
Nhà đầu tư cần chú ý khi đặt giá, phải đọc kỹ quy chế đấu giá của từng cuộc đấu giá.
Đặc biệt lưu ý về:
- GIÁ ĐẶT MUA: KHÔNG THẤP HƠN GIÁ KHỞI ĐIỂM
- KHỐI LƯỢNG ĐẶT MUA
- BƯỚC GIÁ
- CHỮ KÝ XÁC NHẬN
- Mỗi nhà đầu tư chỉ được phát một phiếu đấu giá và ghi đầy đủ các thông tin Phiếu tham dự đấu giá theo nguyên tắc: giá cao hơn đặt trước; tổng khối lượng đặt mua của các mức giá phải đúng bằng khối lượng cổ phần đã đăng ký.
Bước 6: Đấu giá:
Các cuộc đấu giá sẽ diễn ra theo thời gian quy định và địa điểm quy định căn cứ theo Quy chế đấu giá.
CHÚ Ý:
- Chữ ký của Nhà đầu tư trong “Phiếu đăng ký tham gia đấu giá mua cổ phần”, “Phiếu tham dự đấu giá”, “Giấy ủy quyền” phải giống nhau, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm với Sở Giao dịch khi có sự khác biệt.
- Nhà đầu tư nên ghi đúng số điện thoại và địa chỉ dễ liên lạc nhất.
VPBS không chịu trách nhiệm giải quyết trong trường hợp sau:
Nhà đầu tư chuyển tiền muộn hơn thời điểm quy định trong Quy chế đấu giá
Nhà đầu tư nộp tiền cọc nhưng không nộp “Đơn đăng ký tham gia mua cổ phần”
Nhà đầu tư tham dự đấu giá sai quy chế
Nhà đầu tư đấu giá sai quy chế sẽ bị mất tiền cọc
(Nguồn: VPBS cung cấp)
- Tại doanh nghiệp
- Tại tổ chức tài chính trung gian (Công ty chứng khoán)
- Tại Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao dịch chứng khoán
Bước 1: Chuẩn bị đấu giá
- Cơ quan quyết định cổ phần hóa/Ban chỉ đạo cổ phần hóa xác định giá khởi điểm của cổ phần đấu giá.
- Công bố thông tin về doanh nghiệp chuẩn bị tổ chức đấu giá tối thiểu 20 ngày trước ngày tổ chức đấu giá.
- Phối hợp với cơ quan tổ chức đấu giá thuyết trình về doanh nghiệp cho nhà đầu tư nếu cần.
Bước 2: Thực hiện đấu giá
- Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành nhận đơn đăng ký mua và tiền đặt cọc của nhà đầu tư theo quy chế đấu giá.
- Nhà đầu tư bỏ phiếu tham dự đấu giá bằng các hình thức: Bỏ phiếu trực tiếp tại doanh nghiệp (nếu tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp); Bỏ phiếu trực tiếp tại tổ chức tài chính trung gian (nếu tổ chức đấu giá tại tổ chức tài chính trung gian); Bỏ phiếu trực tiếp tại Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao dịch chứng khoán và các đại lý được chỉ định; Bỏ phiếu qua đường bưu điện do cơ quan tổ chức đấu giá quy định.
Bước 3: Tổ chức đấu giá và xác định kết quả đấu giá
- Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành các thủ tục bóc phiếu tham dự đấu giá và nhập các thông tin vào phần mềm đấu giá.
- Xác định kết quả đấu giá theo nguyên tắc lựa chọn giá đặt mua từ cao xuống thấp đến khi đủ số lượng cổ phần chào bán. Tại mức giá trúng thầu thấp nhất, với trường hợp các nhà đầu tư cùng đặt mức giá bằng nhau, nhưng tổng số cổ phần còn lại ít hơn tổng số cổ phần đăng ký mua thì số cổ phần của từng nhà đầu tư được mua xác định như sau:
Số cổ phần nhà đầu tư được mua = Số cổ phần còn lại x (Số cổ phần từng nhà đầu tư đăng ký mua/Tổng số cổ phần các nhà đầu tư đăng ký mua)
- Lập các biên bản liên quan đến buổi đấu giá gửi cho cơ quan quyết định cổ phần hóa, Ban chỉ đạo cổ phần hóa, doanh nghiệp và cơ quan tổ chức đấu giá
- Công bố kết quả đấu giá cổ phần và thu tiền mua cổ phần.
Bước 4: Xử lý các trường hợp vi phạm quy chế đấu giá
- Việc xử lý các trường hợp vi phạm được thực hiện theo quy định của quy chế đấu giá.
- Nhà đầu tư không được nhận tiền đặt cọc nếu vi phạm quy chế đấu giá.
Bước 5: Xử lý đối với số cổ phần không bán hết trong đấu giá nếu có
- Nếu sổ cổ phần nhà đầu tư từ chối mua nhỏ hơn 30% tổng số cổ phần chào bán thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa thực hiện bán tiếp cho các nhà đầu tư đã tham dự đấu giá theo phương thức thỏa thuận với giá không thấp hơn giá đấu thành công bình quân của cuộc đấu giá.
- Nếu số lượng cổ phần nhà đầu tư trúng thầu từ chối mua từ 30% tổng số cổ phần chào bán trở lên thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa xem xét, quyết định tổ chức bán đấu giá tiếp số cổ phần từ chối mua (đấu giá lần 2). Giá khởi điểm trong trường hợp đấu giá lần 2 này không được thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất.
2. Dịch vụ đấu giá
Bước 1: Nhà đầu tư nhận và điền đầy đủ thông tin vào “PHIẾU ĐĂNG KÝ THAM GIA ĐẤU GIÁ MUA CỔ PHẦN” theo mẫu.
Bước 2: Nhà đầu tư nộp tiền đặt cọc (tiền mặt hoặc chuyển khoản) đến 1 trong các tài khoản của VPBS, với nội dung:
Ví dụ: Trần Văn A, số chứng minh thư 012345678, nộp tiền đấu giá 5000 cổ phần Công ty TMCP Đầu tư ABC.
Bước 3: Nhà đầu tư nộp Bộ hồ sơ Đăng ký đấu giá cho Bộ phận Giao dịch của VPBS.
Lưu ý: Nhà đầu tư chuẩn bị đầy đủ BỘ HỒ SƠ ĐĂNG KÝ ĐẤU GIÁ khi nộp, bao gồm:
-> Đối với cá nhân:
- 01 bản chính “Phiếu đăng ký tham gia đấu giá mua cổ phần” hợp lệ
- 01 bản sao Giấy nộp tiền mặt hoặc Ủy nhiệm chi
- 01 bản sao giấy CMND hoặc Hộ chiếu
- 01 Giấy ủy quyền (nếu có)
-> Đổi với pháp nhân:
- 01 bản chính “Phiếu đăng ký tham gia đấu giá mua cổ phần” hợp lệ
- 01 bản sao Giấy phép Đăng ký kinh doanh, và/hoặc các giấy tờ pháp lý theo yêu cầu
- 01 bản sao Giấy nộp tiền mặt
- 01 bản sao giấy CMND hoặc Hộ chiếu của người đại diện pháp luật
- 01 bản sao Giấy ủy quyền cho người đại diện thay mặt tổ chức
-> Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
- Có xác nhận của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trên “Phiếu đăng ký tham gia đấu giá mua cổ phần”.
Bước 4: Nhận và bỏ “PHIẾU THAM DỰ ĐẤU GIÁ”
- Nhà đầu tư lưu ý Bỏ phiếu trước thời hạn Bỏ phiếu đấu giá (có ghi trên Quy chế đấu giá và Thông báo đấu giá)
- Nhà đầu tư xuất trình: Biên lai nộp tiền cọc, Giấy CMND, giấy Ủy quyền (nếu có).
- Nhà đầu tư nhận: “PHIẾU THAM DỰ ĐẤU GIÁ” (phiếu xanh).
Bước 5: Đặt giá
Nhà đầu tư cần chú ý khi đặt giá, phải đọc kỹ quy chế đấu giá của từng cuộc đấu giá.
Đặc biệt lưu ý về:
- GIÁ ĐẶT MUA: KHÔNG THẤP HƠN GIÁ KHỞI ĐIỂM
- KHỐI LƯỢNG ĐẶT MUA
- BƯỚC GIÁ
- CHỮ KÝ XÁC NHẬN
- Mỗi nhà đầu tư chỉ được phát một phiếu đấu giá và ghi đầy đủ các thông tin Phiếu tham dự đấu giá theo nguyên tắc: giá cao hơn đặt trước; tổng khối lượng đặt mua của các mức giá phải đúng bằng khối lượng cổ phần đã đăng ký.
Bước 6: Đấu giá:
Các cuộc đấu giá sẽ diễn ra theo thời gian quy định và địa điểm quy định căn cứ theo Quy chế đấu giá.
CHÚ Ý:
- Chữ ký của Nhà đầu tư trong “Phiếu đăng ký tham gia đấu giá mua cổ phần”, “Phiếu tham dự đấu giá”, “Giấy ủy quyền” phải giống nhau, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm với Sở Giao dịch khi có sự khác biệt.
- Nhà đầu tư nên ghi đúng số điện thoại và địa chỉ dễ liên lạc nhất.
VPBS không chịu trách nhiệm giải quyết trong trường hợp sau:
Nhà đầu tư chuyển tiền muộn hơn thời điểm quy định trong Quy chế đấu giá
Nhà đầu tư nộp tiền cọc nhưng không nộp “Đơn đăng ký tham gia mua cổ phần”
Nhà đầu tư tham dự đấu giá sai quy chế
Nhà đầu tư đấu giá sai quy chế sẽ bị mất tiền cọc
Các sản phẩm chứng khoán phái sinh cơ bản
Sau hơn 1 thập kỷ, kể từ những ngày đầu thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời, cho đến nay, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã làm quen với các sản phẩm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ mở/ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF, cũng như cách thức giao dịch – thanh toán của những sản phẩm này. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán là một thị trường có nhiều phân lớp với các kiểu hình chứng khoán đa dạng. Trên thực tế, nhà đầu tư Việt Nam chỉ mới được tiếp cận với các sản phẩm chứng khoán cơ bản nhất. Trong khi đó, thị trường chứng khoán thế giới là một thị trường hoàn chỉnh, đáp ứng linh hoạt nhất nhu cầu chung chuyển vốn, đa dạng danh mục đầu tư, phục vụ mục đích giao dịch không chỉ trên các cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ hay chứng chỉ của các Quỹ đầu tư, mà còn phục vụ giao dịch cho rất nhiều kiểu hình hàng hóa, từ nông phẩm, kim loại quý, năng lượng, hỗ trợ dự đoán nhiều hiện tượng có khả năng xảy ra trong tương lai, kể cả là thời tiết hay kết quả bầu cử nội các,v..v.
Với kế hoạch ra mắt thị trường chứng khoán phái sinh trong năm 2017, Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam đã xác định hoàn thiện cơ cấu thị trường chứng khoán, gia tăng sự hội nhập của thị trường chứng khoán Việt Nam với các thị trường trên thế giới, cũng như mang lại nhiều cơ hội đầu tư hơn cho thị trường. Trong thời gian đầu tiên ra mắt, các sản phẩm chứng khoán phái sinh cơ bản sẽ là bước khởi động tốt nhất để nhà đầu tư làm quen với thị trường và sản phẩm mới.
Theo đó, chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh, với đặc điểm là một phân cấp thị trường chứng khoán bậc cao, đa dạng sản phẩm và khác biệt so với thị trường cơ sở, thu hút đông đảo nhiều định chế đầu tư nước ngoài, sẽ là một thị trường đáng chú ý đối với cộng đồng đầu tư trong và ngoài nước, cá nhân và cả tổ chức đầu tư.
Để đảm bảo việc tham gia thị trường mới an toàn và đúng quy định, nhà đầu tư cần nắm vững những lý thuyết cơ bản nhất trên thị trường này. Trước hết là tổng quan về khởi nguồn của thị trường chứng khoán phái sinh, các sản phẩm cơ bản trên thị trường và sau là những khác biệt căn bản, cũng như ưu điểm giữa thị trường chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán cơ sở.
1. Thị trường chứng khoán phái sinh
Hiện nay trên thế giới, có tới 100 Sở giao dịch đã đưa vào sản phẩm chứng khoán phái sinh, thuộc 41 khu vực quốc gia và vùng lãnh thổ có nền kinh tế đã và đang phát triển. Các tổ chức tham gia đầu tư chứng khoán phái sinh đều là những nhà đầu tư chuyên nghiệp, bao gồm mạng lưới các ngân hàng, tổ chức tài chính, các quỹ đầu tư, nhà đầu tư tổ chức/cá nhân có lượng vốn lớn, sử dụng chứng khoán phái sinh như phương tiện phòng hộ rủi ro và giao dịch chênh lệch giá.
Sự phát triển vượt bậc và rộng khắp của thị trường chứng khoán phái sinh là kết quả của một quá trình hình thành, thay đổi và sáng tạo qua hơn hàng trăm năm, kể từ khi giao dịch phái sinh trên nông phẩm đầu tiên được tổ chức tại thị trường Nhật Bản và thị trường Hà Lan vào đầu thế kỷ 17. Khởi nguồn tại Nhật Bản, giao dịch phái sinh trên Gạo đã được tổ chức thông qua Sở giao dịch Gạo Dojima tại Osaka.
Tranh vẽ minh họa thị trường giao dịch phái sinh nông phẩm tại Dojima,
hiện đang trưng bày tại phòng truyền thống Sở giao dịch Osaka, Nhật Bản.
Thị trường bấy giờ được tổ chức với những hình thức nguyên sơ nhất, như ghi sổ, trao đổi giấy tờ hợp đồng, thông qua một “chợ đầu mối” Dojima, phương tiện truyền tin chỉ qua thư báo và tín hiệu. Sản phẩm này phục vụ giới thượng lưu võ sĩ Nhật Bản, vào thời đó, “tiền lương” của các samurai được chi trả bằng lúa gạo. Tại Hà Lan, trung tâm giao dịch thương mại của khu vực châu Âu, phái sinh trên lúa mỳ cũng phục vụ nhu cầu của rất nhiều quốc gia cần tích trữ và chi trả chi phí thương mại bằng nông phẩm. Thời kỳ đầu, thị trường chứng khoán phái sinh hoàn toàn chưa được điện tử hóa.
Sang thế kỷ 19, tại Hoa Kỳ, thị trường phái sinh trên nông phẩm cũng được hình thành, và đặt một bước tiến mới cho chu kỳ mở rộng giao dịch thương mại và chung chuyển vốn toàn cầu sang cả các sản phẩm phái sinh trên những tài sản cơ sở khác nông phẩm. Về cơ bản, đất nước Mỹ với diện tích quốc gia rộng lớn, việc buôn bán nông phẩm phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết “mưa thuận gió hòa”. Trong những năm nhiều thiên tai, thời tiết khắc nghiệt, nông phẩm trở nên khan hiếm, đắt đỏ. Để ổn định thị trường nông phẩm, nhằm bảo hộ, giảm thiểu rủi ro về giá do nông phẩm dư thừa hoặc khan hiếm, năm 1848 tại Chicago (Hoa Kỳ), một Hội đồng mậu dịch kỳ hạn đã ra đời. Một năm sau đó, Trung tâm giao dịch mua bán nông phẩm kỳ hạn ra đời, hoạt động theo phương thức đấu giá cạnh tranh, qua đó hình thành các hợp đồng mua bán kỳ hạn.
Định nghĩa: Chứng khoán phái sinh là một công cụ tài chính, trong đó giá trị của CKPS phụ thuộc vào giá trị của một hay nhiều loại tài sản cơ sở. CKPS có dạng hợp đồng tài chính trong đó quy định quyền lợi và/hoặc nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng đối với việc thanh toán hoặc/và chuyển giao tài sản cơ sở với một mức giá được thỏa thuận trước vào một thời điểm nhất định trong tương lai. (Tham khảo định nghĩa theo quy định của Nghị định 42/2015/ND-CP) |
Tài sản cơ sở của CKPS * Hàng hóa: thực phẩm ( cà phê, hồ tiêu…), kim loại (vàng, bạc, kẽm…), năng lượng (khí đốt, dầu…) * Phi hàng hóa: cổ phiếu (chỉ số cổ phiếu, cổ phiếu đơn lẻ), trái phiếu (trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu doanh nghiệp), lãi suất (lãi suất ngân hàng, lãi suất ngoại tệ), tiền tệ (USD, Yên Nhật, Euro). |
Hàng hóa giao dịch thời kỳ đầu là ngũ cốc, lúa mì, bắp, đậu, về sau có thêm gia súc, trứng, thực phẩm và nước trái cây ướp lạnh. Phổ biến trong thời kỳ này là các hợp đồng kỳ hạn về nông phẩm.
Sau đó để khắc phục nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn là không được chuẩn hóa và khó bán lại cho bên thứ ba, hợp đồng tương lai đã ra đời.
Mặc dù vậy, cũng phải tới hơn 01 thế kỷ sau đó, vào những năm 1980, cùng với quá trình hiện đại hóa công nghệ, kết nối thị trường vượt qua các rào cản địa lý, sự bùng phát của chứng khoán phái sinh mới đạt tới đỉnh cao, đặt dấu ấn thứ hai trong toàn bộ quá trình phát triển. Đó là sự ra đời của các sản phẩm phái sinh trên tài sản tài chính như cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu và các kim loại quý, năng lượng.
Trên thực tế, trong khu vực liên ngân hàng và các tổ chức tài chính lớn, các hợp đồng kỳ hạn giao dịch ngoại tệ, lãi suất phi rủi ro (trái phiếu chính phủ), các giấy tờ có giá, kể cả là hợp đồng mua nhà, hoặc các giấy chứng nhận sở hữu tài sản tài chính được giao dịch rất sôi động và mang giá trị lớn. Các hợp đồng kỳ hạn trên tài sản tài chính đóng vai trò là công cụ phòng hộ rủi ro thiết yếu cho danh mục đầu tư và cơ cấu vốn của các ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính và bảo hiểm.
Việc xuất hiện chứng khoán phái sinh trên chỉ số cổ phiếu và trái phiếu chính phủ đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm phòng hộ rủi ro cho danh mục đầu tư đa dạng, hoặc cho phép nắm giữ các danh mục đầu tư mô phỏng thị trường với lợi ích đòn bẩy rất cao. Thống kê các thị trường ra mắt sản phẩm phái sinh trên chỉ số cổ phiếu và trái phiếu chính phủ như sau:
Bảng 1: Thống kê ra mắt các sản phẩm phái sinh trên chỉ số cổ phiếu
TT | Thị trường | Tên chỉ số | Năm ra mắt HĐTL trên chỉ số | Năm ra mắt HĐQC trên chỉ số |
1 | Mỹ | S&P 500 | 1982 | 1983 |
2 | Úc | All Ordinaries | 1983 | 1983 |
3 | Hàn Quốc | KOSPI 200 | 1996 | 1997 |
4 | Hồng Kông | Hang Seng | 1986 | 1993 |
5 | Canada | TSE 300 | 1984 | 1984 |
6 | Thái Lan | SET50 | 2006 | 2007 |
7 | Đài Loan | TAIEX | 1998 | 2004 |
8 | Ba Lan | WIG 20 | 1998 | 2003 |
9 | Nhật (Osaka) | Nikkei 225 | 1986 | 1989 |
10 | Tây Ban Nha | IBEX 35 | 1992 | 1992 |
11 | Anh (LSE) | FTSE 100 | 1984 | 1984 |
Bảng 2: Thống kê ra mắt các sản phẩm phái sinh trên trái phiếu Chính phủ
Đài Loan | Trung quốc | Thái Lan | Hong Kong | Nhật bản | Úc | Canada |
2/1/2004: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 10 năm | 06/09/2013: niêm yết HĐTL TPKB 5 năm (5-year Treasury Bond Futures) 20/3/2015: niêm yết HĐTL TPKB 10 năm (10-year Treasury Bond Futures) | 18/10/2010: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 5 năm | 26/9/1997: ra mắt sản phẩm HĐTL trên lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 3 tháng (Three-Month HIBOR Futures) 20/10/1998: ra mắt sản phẩm HĐTL trên lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng One-Month HIBOR Futures 10/4/2017: Ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 5 năm MOF T-Bond Futures | 19/10/1985: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 10 năm (10-year JGB bond futures) 8/7/1988: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 20 năm (20-year JGB futures) – ngừng năm 2002 16/02/1996: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 5 năm (5-year JGB futures) 23/3/2009: ra mắt HĐTL mini 10-year JGB futures 7/4/2014: tái ra mắt mắt sản phẩm HĐTL TPCP 20 năm (20-year JGB futures) | 1979: ra mắt sản phẩm HĐTL trên tín phiếu kỳ hạn 90 ngày (90-Day Bank Bill) 1984: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 2 năm – đã ngừng giao dịch 16/3/2001: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 3 năm Sau đó, ASX đã ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 10 năm 21/9/2015: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 20 năm | 9/1989: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 10 năm (10-year Government of Canada bond futures) 1/1995: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 5 năm 6/2002: ra mắt sản phẩm HĐTL trên lãi suất repo qua đêm, kỳ hạn 30 ngày 4/2004: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 2 năm 11/2007: ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 30 năm 4/2009: tái ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP 5 năm |
Đối với những mặt hàng là kim loại quý và năng lượng, thời kỳ 1980 về sau phù hợp với sự đổ vỡ của chế độ bản vị vàng Bretton Woods nawm 1971 và khủng hoảng dầu khí của những năm 1970. Phái sinh trên các mặt hàng này đáp ứng dự đoán giá cả, phòng hộ rủi ro và báo trước những diễn biến trên thị trường cơ sở.
Mặc dù vậy, sau nhiều lần khủng hoảng tài chính đổ vỡ với quy mô toàn cầu, các thị trường lớn đã có xu hướng tiến tới giao dịch và/hoặc bù trừ/thanh toán tập trung cho chứng khoán phái sinh. Việc áp dụng các quy định chung về ký quỹ, thắt chặt quy định cho giao dịch đặc biệt được sử dụng sau khủng hoảng tài chính năm 2008. Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính 2008 khởi nguồn từ các hợp đồng phái sinh trên thị trường tự do OTC và thuộc về sản phẩm phái sinh bậc cao dựa trên nhiều lớp tài sản chứng khoán hóa từ nợ xấu bất động sản (subprime mortgage và Mortgage-backed Securities), nhưng cuộc khủng hoảng cũng dấy lên một hồi chuông cảnh tỉnh cho việc thắt chặt quy định và tăng cường giám sát, giúp ổn định và đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán phái sinh.
Đối với các sản phẩm chứng khoán phái sinh cơ bản, đặc biệt là các sản phẩm giao dịch trên thị trường tập trung và bù trừ thông qua đối tác bù trừ trung tâm (CCP – Central Counter Party), lịch sử cho thấy chưa có tình huống mất khả năng thanh toán nào vượt quá tầm kiểm soát và các bước đệm quản lý rủi ro của thị trường.
Có 04 loại hợp đồng phái sinh chính, bao gồm:
- Hợp đồng kỳ hạn
- Hợp đồng tương lai
- Hợp đồng Quyền chọn
- Hợp đồng hoán đổi
2. Các hợp đồng chứng khoán phái sinh cơ bản (derivative securities)
a. Hợp đồng Kỳ hạn (forwards contract):
Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận pháp lý giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một loại tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá được xác định trước tại ngày thực hiện giao dịch.
Hợp đồng kỳ hạn có giá trị pháp lý ràng buộc giữa hai bên mua và bán; đến kỳ hạn thực hiện (ngày đáo hạn hợp đồng), người có hợp đồng mua có quyền và nghĩa vụ phải mua, người có hợp đồng bán có quyền và nghĩa vụ bán.
Ví dụ 1:
Một người nông dân A trồng lúa, sau khi tính toán hết mọi chi phí, anh ta xác định giá bán gạo Nàng Hương sau vụ thu hoạch tháng 10 tối thiểu phải 19.000đ/kg thì anh ta mới có lãi.
Tháng 7, anh ta tìm đến một người buôn gạo B, ký với người này một hợp đồng kỳ hạn “bán 1.000 kg gạo Nàng Hương với giá 19.000đ/kg, kỳ hạn tháng 10” để đảm bảo rằng, tại thời điểm đáo hạn hợp đồng (tháng 10), cho dù giá gạo trên thị trường là bao nhiêu đi nữa thì, người nông dân A vẫn bán được 1.000 kg gạo Nàng Hương với giá 19.000đ/kg, và có lời.
Tuy nhiên hợp đồng kỳ hạn có những hạn chế nhất định. Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận riêng rẽ giữa bên mua và bên bán nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của hai bên. Bởi vậy, hợp đồng này khó bán lại cho bên thứ ba do khó tìm được bên thứ ba có cùng nhu cầu như bên mua hoặc bên bán.
Hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên, không được chuẩn hóa nên chỉ được giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC). Để hạn chế nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, người ta đã phát triển một sản phẩm chuẩn hóa, có thể dễ dàng giao dịch là hợp đồng tương lai.
b. Hợp đồng Tương lai (futures Contract):
Hợp đồng tuơng lai (HĐTL) là một dạng hợp đồng kỳ hạn đã được chuẩn hóa, niêm yết và giao dịch tại thị trường tập trung (Sở GDCK), ví dụ: hợp đồng tương lai chỉ số VN30-Index, dự kiến sẽ được đưa vào giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh ngay khi mở cửa thị trường.
Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá được xác định trước tại ngày giao dịch. |
Hợp đồng tương lai do Sở GDCK xây dựng hợp đồng mẫu và sau đó niêm yết tại Sở GDCK.
Hợp đồng tương lai được giao dịch tập trung tại Sở GDCK, được thỏa thuận mua bán thông qua người môi giới (thành viên giao dịch trên TTCK phái sinh).
Trước khi giao dịch hợp đồng tương lai, nhà đầu tư phải nộp ký quỹ vào tài khoản ký quỹ (Margin Account) theo mức quy định tối thiểu của Trung tâm bù trừ thanh toán CKPS (tại Việt Nam là Trung tâm lưu ký chứng khoán VSD), thông qua CTCK nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán phái sinh nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động giao dịch hợp đồng tương lai gọi là mức ký quỹ ban đầu. Trong trường hợp mức kỹ quỹ này xuống thấp hơn mức ký quỹ duy trì, nhà đầu tư phải bổ sung tiền mặt hoặc chứng khoán có trong danh sách chấp nhận làm tài sản của Trung tâm bù trừ thanh toán CKPS (với một mức chiết khấu nhất định cho từng cổ phiếu) để tăng giá trị ký quỹ về mức tối thiểu mức ký quỹ ban đầu. Trong trường hợp tỷ lệ ký quỹ của nhà đầu tư cao hơn mức ký quỹ duy trì theo quy định của công ty chứng khoán, nhà đầu tư có thể rút ra phần tài sản dư.
Khi được giao dịch, giá của hợp đồng tương lai thay đổi liên tục, tăng hoặc giảm trong ngày, tương tự như việc giao dịch cổ phiếu hiện tại trên thị trường chứng khoán cơ sở. Giá của hợp đồng tương lai được hạch toán theo giá hàng ngày căn cứ trên giá thị trường (marking to market daily). Điều đó có nghĩa là trong kỳ hạn của hợp đồng tương lai, các khoản lãi/lỗ hàng ngày được cộng/trừ vào tài khoản ký quỹ của mỗi bên.
Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu VN30-Index có các nội dung như sau
· Tài sản cơ sở: VN30-Index · Quy mô hợp đồng: 100.000 VND x VN30-Index, trong đó giá trị 100.000 VND được gọi là hệ số nhân (multiplier) của hợp đồng, ký hiệu là m. · Tháng đáo hạn: Tháng hiện tại, tháng kế tiếp, hai tháng cuối 02 quý gần nhất · Phương thức giao dịch: Phương thức khớp lệnh và Phương thức thỏa thuận · Thời gian giao dịch: Mở cửa trước thị trường cơ sở 15 phút, Đóng cửa: kết thúc cùng thị trường cơ sở · Biên độ dao động giá: ±7% · Đơn vị giao dịch: 01 hợp đồng. |
Ví dụ 2: về giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số VN30-Index:
Giả sử A và B là người mua và bán trong hợp đồng tương lai VN30-Index kỳ hạn 1 tháng với giá tương lai F1 .
Tại thời điểm tháng 4/2017 (t=1), VN30-Index bằng 666 điểm, S1 = 666. VN30-Index sau 1 tháng (tháng 5) theo cam kết trong hợp đồng bằng 700 điểm, F1 = 700.
(i) Giả sử đến tháng 5, VN30-Index tăng lên 720 điểm. Theo hợp đồng, B cam kết bán chỉ số ở giá F1 = 700 cho A, trong khi có thể bán trên thị trường với giá cao hơn là Sm = 720. A được lợi và B bị thiệt. B phải thanh toán cho A số tiền: V = m*(Sm – F1 ) = 100.000*(720 – 700) = 2.000.000 VND.
(ii) Giả sử đến tháng 5, VN30-Index giảm xuống 650 điểm. Theo hợp đồng, A cam kết mua chỉ số ở giá F1 = 700 từ B, trong khi có thể mua trên thị trường với giá thấp hơn là Sm = 650. B được lợi và A bị thiệt. A phải thanh toán cho B số tiền: V = m*(F1 – Sm ) = 100.000*(700 – 650) = 5.000.000 VND.
c. Hợp đồng Quyền chọn (Option Contract):
Hợp đồng quyền chọn (HĐQC) là một công cụ tài chính cho phép người mua có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hay bán một tài sản cơ sở với mức giá đã được ấn định vào trước hoặc đúng ngày đã được xác định trong tương lai.
*Các yếu tố cấu thành hợp đồng quyền chọn: Người mua quyền (holder), người bán quyền (writer), tài sản cơ sở (underlying asset), giá thực hiện (strike or exercise price), ngày đáo hạn (expiration date), phí mua quyền (premium).
*Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn:
- Hợp đồng quyền chọn là một công cụ tài chính duy nhất cho phép người mua nó có quyền chứ không phải có nghĩa vụ.
- Người bán hợp đồng quyền chọn có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng nếu người mua nó yêu cầu
- Hợp đồng quyền chọn là một tài sản tài chính nên nó có giá trị
- Giá cả trên thị trường của tài sản cơ sở là căn cứ để xác định giá trị của hợp đồng quyền chọn
- Kiểu quyền chọn: kiểu giao dịch do hai bên thỏa thuận cho phép người mua được lựa chọn thời điểm thực hiện quyền chọn.
*HĐQC có thể thực hiện theo 2 kiểu:
· Hợp đồng kiểu Mỹ (American style): người mua HĐQC có quyền thực hiện HĐ vào bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn.
· Hợp đồng kiểu Châu Âu (European style): người mua HĐQC chỉ được thực hiện HĐ vào thời điểm HĐ hết hạn.
Nội dung | Quyền chọn Mua | Quyền chọn Bán |
Người mua | Có quyền mua tài sản cơ sở | Có quyền bán tài sản cơ sở |
Người bán | Có nghĩa vụ bán tài sản cơ sở | Có nghĩa vụ mua tài sản cơ sở |
Ví dụ 3:
Ông A mua hợp đồng quyền chọn mua cổ phần SSI với giá thực hiện là 15.000 đồng/cổ phần. Vào thời điểm đáo hạn, giả thiết giá một cổ phần SSI trên thị trường là 20.000 đồng. ÞÔng A sẽ thực hiện quyền chọn mua, người bán buộc phải bán cổ phần SSI (có giá thị trường 20.000 đồng) chỉ với giá 15.000 đồng => Người bán bị thiệt 5.000 đồng/cổ phần, trong khi người mua được lợi 5.000 đồng/cổ phần.
d. Hợp đồng Hoán đổi (Swap Contract):
HĐHĐ là một thỏa thuận pháp lý trong đó hai bên cam kết hoán đổi dòng tiền của một công cụ tài chính của một bên với dòng tiền của công cụ tài chính của bên còn lại trong một khoảng thời gian nhất định.
· HĐHĐ giao dịch trên thị trường OTC, đa dạng về chủng loại
· HĐHĐ phổ biến nhất là hợp đồng hoán đổi lãi suất Vanilla Đơn giản (Plain-Vanilla) hay còn gọi là hợp đồng hoán đổi lãi suất thả nổi-cố định
HĐHĐ lãi suất thường được các ngân hàng và các doanh nghiệp áp dụng. Theo đó, các doanh nghiệp đồng ý trả một luồng tiền bằng mức lãi suất cố định được định trước trên một mức vốn danh nghĩa trong một số năm. Để đổi lại, các ngân hàng sẽ trả mức lãi suất thả nổi trên cùng mức vốn danh nghĩa cho cùng thời kỳ. Các doanh nghiệp sử dụng hợp đồng hoán đổi lãi suất để tránh rủi ro về lãi suất và để tái cơ cấu tài sản nợ, có.
Ví dụ 4:
Công ty Microsoft có một khoản vay bằng trái phiếu, trả lãi định kỳ với lãi suất Coupon là lãi suất LIBOR (lãi suất liên ngân hàng London thả nổi).
Để hạn chế rủi ro về lãi suất LIBOR thả nổi, Công ty Microsoft ký kết HĐHĐ lãi suất trái phiếu với ngân hàng Citibank trong đó quy định: Citibank sẽ trả lãi suất thả nổi (floating rate) của trái phiếu cho Microsoft, và Microsoft trả lãi suất cố định: 5% cho Citibank. Giá trị tài sản (mức vốn danh nghĩa) là 100 triệu USD.
3. Lợi ích của việc giao dịch CKPS đối với nhà đầu tư
a. Phòng hộ rủi ro (Hedging): Là khi các cá nhân/tổ chức có nhu cầu giao dịch thực sự tài sản cơ sở và sử dụng CKPS để phòng hộ rủi ro liên quan đến biến động giá của tài sản (Như ví dụ 1).
b. Đầu tư hạn chế chênh lệch giá (Arbitraging): Là khi các cá nhân/tổ chức tham gia mua và bán đồng thời một/nhiều loại CKPS. Mục đích của nhà đầu tư hạn chế chênh lệch giá là tận dụng sự chênh lệnh giá giữa các CKPS để thu về lợi nhuận phi rủi ro.
Ví dụ 5:
Tiếp tục ví dụ 1: Tháng 7, người buôn gạo B ký với người nông dân A hợp đồng kỳ hạn “mua 1.000 kg gạo Nàng Hương với giá 19.000đ/kg, kỳ hạn tháng 10”. Tháng 8, người buôn gạo B tìm được một người buôn gạo C muốn mua gạo Nàng Hương với giá 21.000đ/kg, anh ta liền ký hợp đồng kỳ hạn “bán 1.000 kg gạo Nàng Hương với giá 21.000đ/kg, kỳ hạn tháng 10”.
Như vậy người buôn gạo B đã ký 2 hợp đồng: mua 1.000 kg gạo Nàng Hương với giá 19.000đ/kg và bán 1.000 kg gạo Nàng Hương với giá 21.000đ/kg. Đến tháng 10, nếu giá gạo trên thị trường là 20.000đ/kg, anh ta có lời; nếu giá gạo trên thị trường là 22.000đ/kg anh ta hạn chế được chênh lệch giá.
c. Đầu cơ (Speculating): Là khi các cá nhân/tổ chức không có ý định giao dịch tài sản cơ sở mà muốn lợi dụng sự biến động về giá của tài sản cơ sở để thu về lợi nhuận ngắn hạn.
Ví dụ 6:
Tiếp tục ví dụ 1, Sau khi người buôn gạo B ký với người nông dân A hợp đồng kỳ hạn “mua 1.000 kg gạo Nàng Hương với giá 19.000đ/kg, kỳ hạn tháng 10” vào tháng 7, sau đó đến tháng 9, mọi thông tin và dự báo cho thấy gạo Nàng Hương sẽ rót giá, có thể chỉ còn 15.000đ/kg. Tại thời điểm giá gạo là 17.000 đồng/kg người buôn gạo B bán hết hợp đồng mua đó, để không phải mua gạo ở giá 19.000 đồng.
Tại thời điểm người buôn gạo B bán ra hợp đồng ở giá 17.000đ vào tháng 9, một người đầu tư chứng khoán có nhận định, gạo Nàng Hương xuống giá chỉ là tạm thời, giá gạo Nàng Hương sẽ lên, có thể là 22.000đ/kg vào tháng 10, anh ta có một quyết định đầu cơ, mua vào hợp đồng đó ở giá 17.000đ/kg.
Sau đó: Như dự đoán, gạo Nàng Hương lên giá, tại thời điểm gạo có giá 22.000đ anh ta bán ra, kết thúc cuộc đầu tư, thu về 5 triệu đồng tiền lãi ((22.000-17.000)) x 1.000 kg).
Cũng có thể thị trường không như dự đoán, gạo Nàng Hương tiếp tục rớt giá, tại thời điểm gạo có giá 15.000đ, anh ta phải bán ra, lỗ 2 triệu đồng ((17.000 –15.000) x 1.000kg).
3. Sự khác biệt giữa chứng khoán cơ sở và CKPS
Về cơ bản, có những khác biệt giữa chứng khoán cơ sở và chứng khoán phái sinh, theo đó chứng khoán phái sinh có các ưu điểm hỗ trợ cho thanh khoản thị trường cơ sở, cũng như cho phép nhà đầu tư tận dụng các lợi thế về đòn bẩy, giao dịch – bù trừ nhanh chóng, không giới hạn việc nắm giữ, và liên tục dự đoán xu thế thị trường. Cụ thể như trong bảng sau:
Nội dung | Chứng khoán cơ sở | Chứng khoán Phái sinh |
Thị trường giao dịch | Thị trường giao ngay (spot market) | Thị trường Phái sinh |
Số lượng phát hành/niêm yết | Có giới hạn (phụ thuộc vào tổ chức phát hành) | Không giới hạn |
Bán khống chứng khoán | Bị cấm hoặc hạn chế tại một số thị trường | Tham gia vị thế bán mà không cần có tài sản cơ sở |
Số tiền cần để giao dịch | Bằng tổng giá trị CK muốn mua | Một phần giá trị CKPS |
Thời điểm thanh toán/chuyển giao | Ngay sau khi giao dịch | Một thời điểm nhất định trong tương lai |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
-
Làm Website giá rẻ được rất nhiều người lựa chọn do chính từ mức giá của nó. Tuy nhiên đến lúc đưa vào hoạt động thì web giá rẻ sẽ khiến c...
-
Thiết kế Website giá rẻ đang được rất nhiều khách hàng ưa chuộng bởi mức giá thấp và thừoi gian xây dựng nhanh chóng. Tuy nhiên bên cạnh 2 ư...
-
SEO (viết tắt là Search Engine Optimization) nghĩa là tối ưu hóa công cụ tìm kiếm. Nó đã trở thành thuật ngữ khá quen thuộc với mỗi doanh n...