Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiểm toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiểm toán. Hiển thị tất cả bài đăng

Cách tính EPS khi chia, táchh, thưởng cổ phiếu và phát hành quyền mua

EPS (thu nhập trên mỗi cổ phiếu) là một trong những chỉ tiêu được sử dụng thường xuyên nhất đối với các NĐT và có ảnh hưởng lớn đối với giá cổ phiếu công ty. Tuy nhiên, chuẩn mực kế toán Việt Nam và các hướng dẫn về EPS vẫn chưa đầy đủ, việc triển khai thực hiện còn một số bất cập. Kết quả là NĐT nhận được báo cáo tài chính với EPS không chính xác và không đầy đủ. Tác giả Trần Xuân Nam đã dành cho ĐTCK bài viết này nhằm phân tích những bất cập đó, giúp bạn đọc, các nhà làm chuẩn mực kế toán Việt Nam có cái nhìn chính xác và đầy đủ hơn về EPS.
Tầm quan trọng của EPS
EPS là một trong những chỉ tiêu được trích dẫn thường xuyên nhất trong phân tích tài chính vì chỉ số P/E được sử dụng rộng rãi như một tiêu chuẩn so sánh cho các quyết định đầu tư. Do vậy, việc tính toán và trình bày EPS có thể ảnh hưởng quan trọng đến giá cổ phiếu của công ty. EPS còn được dùng như một công cụ để đánh giá việc thực hiện của ban điều hành công ty. Tiền thưởng của HĐQT, ban điều hành có thể trên cơ sở sự tăng trưởng EPS. Bởi vậy, nó tạo một sức ép rất lớn đối với ban điều hành công ty trong việc tăng trưởng EPS. Ban điều hành có thể cố tình tạo một kết quả EPS có lợi hơn cho mình và công ty. Khi nghiên cứu về EPS cần lưu ý, mục tiêu chính của EPS là để đánh giá kết quả thực hiện của một công ty và nó đặc biệt quan trọng để so sánh kết quả của một công ty qua các kỳ khác nhau và so sánh việc thực hiện của vốn chủ sở hữu của công ty với công ty khác.

Cách tính EPS cơ bản
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 30 và Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 33, EPS cơ bản được tính bằng cách chia tổng lãi (lỗ) thuần thuộc các cổ đông phổ thông cho số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông lưu hành trong kỳ.
Theo Thông tư số 21/2006/TT-BTC hướng dẫn Chuẩn mực VAS 30, tổng số lãi thuần phân bổ cho các cổ đông phổ thông là lãi (lỗ) thuần sau thuế thu nhập doanh nghiệp trừ đi các số điều chỉnh giảm là cổ tức của cổ phiếu ưu đãi và cộng thêm các khoản điều chỉnh tăng liên quan đến khoản chênh lệch mua cổ phiếu ưu đãi.
Thông tư 21 không đề cập đến việc phải điều chỉnh giảm các khoản lãi không dành cho cổ đông phổ thông như quỹ khen thưởng khách hàng, quỹ thưởng cho HĐQT, đặc biệt là quỹ khen thưởng phúc lợi dành cho nhân viên. Những khoản này, theo chuẩn mực kế toán quốc tế, được ghi nhận là các khoản chi phí để trừ ra khỏi lãi dành cho cổ đông. Sau một năm hoạt động có lãi, các công ty thường dành 5 - 15%, thậm chí 20% tổng số lãi thuần sau thuế để chi cho nhân viên dưới hình thức chia cho quỹ khen thưởng, phúc lợi.
Riêng quỹ dự phòng tài chính, hiện nay, Luật Doanh nghiệp không quy định cụ thể về mức trích lập quỹ này trong các CTCP nói chung, nhưng nhiều loại hình DN vẫn thực hiện trích lập quỹ này như một cách để góp phần điều tiết thu nhập của DN. Đây là quỹ thuộc sở hữu của các cổ đông phổ thông và không phải loại trừ ra khỏi lãi khi tính EPS.
Trường hợp gộp, chia tách và thưởng cổ phiếu, theo Thông tư 21, sẽ không có bất cứ một sự tăng, giảm về dòng tiền hay tài sản và nguồn vốn đối với công ty. Bởi vậy, trong những sự kiện đó thì cổ phiếu gộp, chia tách, thưởng dù phát sinh bất cứ thời điểm nào trong kỳ cũng phải được tính vào ngày đầu tiên của năm báo cáo. Đồng thời, điều chỉnh tương ứng cho số cổ phiếu của những năm trước để có tính so sánh giữa các năm. Thông tư 21 không đề cập đến việc chia cổ tức bằng cổ phiếu, nhưng bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu cũng giống như thưởng cổ phiếu, điều này được ghi rất rõ trong chuẩn mực kế toán quốc tế. Do đó, hướng dẫn kế toán Việt Nam nên bổ sung việc chia cổ tức bằng cổ phiếu để việc thực hiện tại các công ty được dễ dàng hơn.
Ví dụ, công ty A có 10 triệu cổ phiếu, ngày 30/6/2008 công ty quyết định chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 20% (100 CP hiện hữu được chia 20 CP mới). Tổng số lãi của công ty năm 2008 và 2007 tương ứng là 40 tỷ đồng và 34 tỷ đồng. Kỳ kế toán từ ngày 1/1 đến 31/12 hàng năm. EPS năm 2008 và EPS tương ứng năm 2007 sẽ là 3.333 đồng và 2.833 đồng (xem bảng).
Ghi chú: * Mặc dù thưởng hay chia cổ tức bằng cổ phiếu được thực hiện ngày 30/6/2008, nhưng khi lập báo cáo tài chính năm 2008, công ty sẽ phải tính số cổ phiếu tăng thêm ngay từ ngày đầu năm 1/1/2008. Nếu lập báo cáo quý II/2008, tính EPS của 4 quý gần nhất cho đến ngày 30/6/2008 thì số cổ phiếu tăng thêm này được tính từ ngày 1/7/2007.
** Trong báo cáo tài chính năm 2008, để thấy được xu hướng EPS qua các năm, chúng ta phải điều chỉnh lại EPS năm 2007 và các năm trước đó bằng cách tăng số cổ phiếu thưởng của năm 2008 vào cả năm 2007 và các năm trước đó. Nếu không điều chỉnh số 2 triệu cổ phiếu thưởng cho năm 2007, thì EPS gốc 2007 là 3.400 đồng, cao hơn so với năm 2008, sẽ không phản ánh đúng xu hướng EPS.   

Phát hành quyền mua (rights issue)
Đó là phát hành quyền mua cổ phiếu mới cho các cổ đông hiện hữu với giá thấp hơn giá thị trường hiện tại. Do vậy, ở đây đã bao gồm một yếu tố thưởng. Để tính EPS khi phát hành quyền mua, đầu tiên chúng ta cần tính giá quyền mua lý thuyết.
Ví dụ: Công ty HAP có 3.850.250 CP đang lưu hành từ đầu năm 2006. Ngày 16/6/2006, HAP phát hành thêm 1.925.125 CP (2 CP hiện hữu được quyền mua 1 CP mới) với giá 25.000 đồng/CP. Giá cổ phiếu ngày cuối cùng chốt danh sách phát hành ngày 15/6/2006 là 55.000 đồng/CP. Yêu cầu tính: 1) Giá lý thuyết quyền mua 1 CP? 2) EPS năm 2006? Biết rằng, lãi thuần sau thuế năm 2006 là 16 tỷ đồng. 3) Tính EPS điều chỉnh cho năm 2005 và 2004? Biết rằng, lãi thuần năm 2005 là 14,58 tỷ đồng và EPS gốc năm 2004 là 4.492 đồng.
Lời giải:
1. Giá lý thuyết quyền mua 1 CP:
- Trước khi phát hành: 2 CP x 55.000 = 110.000 đồng.
- Phát hành quyền mua: 1 CP x 25.000 = 25.000 đồng.
- Giá trị lý thuyết của 3 CP = 110.000 + 25.000 = 135.000 đồng.
- Giá quyền mua lý thuyết mỗi cổ phiếu bình quân = 135.000/3 = 45.000 đồng.
2. Tính EPS cho năm 2006:
- Số cổ phiếu trước ngày phát hành quyền mua là 3.850.250 CP sẽ được nhân với tỷ lệ giữa giá thị trường ngày cuối cùng trước khi phát hành (55.000 đồng/CP) và giá lý thuyết quyền mua (45.000 đồng/CP).
- Số cổ phiếu bình quân của cả năm được tính theo 2 giai đoạn: giai đoạn 1, từ 1/1 - 15/6/2006, tức 5,5 tháng: 3.850.250 CP x 5,5/12 tháng x 55/45 = 2.156.853 CP; giai đoạn 2, từ 15/6 - 31/12/2006, tức 6,5 tháng: (3.850.250 + 1.925.125) x 6,5/12 tháng = 3.128.328 CP. Vậy, số cổ phiếu lưu hành bình quân trong năm = 5.285.181 CP.
- EPS năm 2006 = 16 tỷ đồng/5.285.181 CP = 3.027 đồng.
Lưu ý, nếu tính theo quy định hiện hành, số cổ phiếu giai đoạn 1 không điều chỉnh nhân với hệ số thưởng 55/45. Do đó, số cổ phiếu giai đoạn 1 chỉ là: 3.850.250 x 5,5/12 tháng = 1.764.698 CP, nên số cổ phiếu bình quân năm 2006 sẽ là: 1.764.698 + 3.128.328 = 4.893.026 CP. Vì vậy, EPS 2006 tính theo cách không điều chỉnh hệ số thưởng sẽ là: 6 tỷ đồng/4.893.026 = 3.270 đồng.
3. Tính EPS điều chỉnh cho năm 2005 và năm 2004:
- EPS điều chỉnh = EPS gốc x (Giá quyền mua lý thuyết/Giá thị trường ngày cuối trước khi phát hành mới).
- EPS gốc năm 2005 = 14,58 tỷ đồng/3.850.250 = 3.787 đồng.
- EPS điều chỉnh năm 2005 = 3.787 đồng x 45/55 = 3.098 đồng.
- EPS điều chỉnh năm 2004 = 4.492 đồng x 45/55 = 3.675 đồng.          
Cách tính EPS cơ bản khi phát hành cổ phiếu thưởng (đơn vị: triệu)
                                                 

EPS pha loãng (diluted EPS)
Cuối kỳ kế toán, một công ty có thể có một số chứng khoán mà ở thời điểm hiện tại chưa có quyền được đòi chia lãi như cổ phiếu phổ thông, nhưng nó sẽ chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông trong tương lai. Những chứng khoán này bao gồm: Thứ nhất, các trái phiếu chuyển đổi hoặc các cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi mà chúng cho phép chủ sở hữu nó có quyền, ở một ngày tương lai, được chuyển đổi những chứng khoán này thành các cổ phiếu phổ thông, với một tỷ lệ chuyển đổi đã định sẵn. Thứ hai, các hợp đồng lựa chọn (options hoặc warrants). Trong những trường hợp này, số cổ phiếu phổ thông có thể được tăng lên, dẫn đến việc giảm EPS hay EPS bị pha loãng. EPS pha loãng sẽ chỉ cho các nhà đầu tư những ảnh hưởng có thể có của việc pha loãng EPS trong tương lai, rất cần thiết cho quyết định đầu tư.
Cách tính EPS pha loãng:
- Thứ nhất, tính lãi. Lãi dùng để tính EPS cơ bản được điều chỉnh bởi các ảnh hưởng sau thuế của các khoản: lãi suất tiền vay trong kỳ của trái phiếu chuyển đổi tiềm năng; cổ tức của cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi tương lai mà chúng đã được trừ ra khỏi khi tính lãi cho EPS cơ bản; các khoản thay đổi khác trong thu nhập và chi phí (phí, chiết khấu, tiền thưởng) mà chúng là kết quả của việc chuyển đổi các trái phiếu chuyển đổi hay cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông.
- Thứ hai, tính số cổ phiếu. Đó là số bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông dùng để tính EPS cơ bản cộng với bình quân gia quyền của các cổ phiếu phổ thông mà chúng sẽ được phát hành từ việc chuyển đổi tất cả các trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi thành các cổ phiếu phổ thông. Chúng ta giả định các cổ phiếu tiềm năng này sẽ được chuyển đổi thành các cổ phiếu phổ thông vào ngày đầu tiên của kỳ báo cáo.
Ví dụ: Ngân hàng ACB năm 2007 có lãi thuần sau thuế là 1.680 tỷ đồng và có khối lượng cổ phiếu lưu hành bình quân là 198,8 triệu CP, EPS cơ bản năm 2007 là 8.451 đồng. ACB đã phát hành hai đợt trái phiếu chuyển đổi với tổng số tiền là 1.900 tỷ đồng, lãi suất 10%/năm và sẽ chuyển đổi thành 190 triệu cổ phiếu phổ thông trong vòng 2 - 5 năm tới. Tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp là 28%. Tính EPS pha loãng của ACB?
Lời giải:
1. Tính số cổ phiếu phổ thông: 198,8 triệu CP + 190 triệu CP = 388,8 triệu CP.
2. Tính số lãi thuần:
Số lãi hiện tại: 1.680 tỷ đồng.
Lãi suất tiền vay tiết kiệm: 1.900 tỷ đồng x 10% = 190 tỷ đồng.
Thuế thu nhập doanh nghiệp trên phần lãi vay: 190 tỷ đồng x 28% = 53,2 tỷ đồng.
Vậy, lãi thuần sau điều chỉnh là: 1.680 + 190 - 53,2 = 1.816,8 tỷ đồng.
3. EPS pha loãng = 1.816,8 tỷ đồng/388,8 triệu CP = 4.673 đồng.
Như vậy, EPS pha loãng thấp hơn  EPS cơ bản là: 8.451 - 4.673 = 3.778 đồng.

Trình bày EPS
Ở chuẩn mực kế toán Việt Nam chỉ mới đề cập đến tên gọi EPS pha loãng, chứ chưa có hướng dẫn về cách tính và trình bày.  Các công ty vì vậy chưa báo cáo EPS pha loãng. Điều này làm cho nhà đầu tư phải đọc các báo cáo tài chính không đầy đủ và do vậy, có thể ảnh hưởng lớn đến các quyết định đầu tư.
Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư, chúng tôi đề nghị Bộ Tài chính, UBCKNN, Sở GDCK TP. HCM và TTGDCK Hà Nội cần có hướng dẫn rõ ràng cách tính EPS cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 33 yêu cầu bắt buộc báo cáo lãi lỗ của các công ty phải trình bày cả hai chỉ tiêu EPS cơ bản và EPS pha loãng trên bề mặt của báo cáo kết quả kinh doanh với mức độ nổi bật như nhau.
- Báo cáo tài chính hàng quý cũng cần phải được trình bày tương tự như đã nói ở trên. Đặc biệt lưu ý các khoản lãi không thuộc cổ đông như quỹ khen thưởng, phúc lợi cần phải được ghi giảm khỏi lãi để tính EPS ngay trong các báo cáo quý, chứ không đợi đến cuối năm. Đầu năm, ĐHCĐ thường niên đã đưa ra kế hoạch phân phối lãi cho năm tới (mặc dù chưa chính thức). Ví dụ, công ty S đưa ra nguyên tắc trích 10% lợi nhuận sau thuế cho quỹ khen thưởng, phúc lợi. Nếu trong quý I, công ty S có lãi sau thuế 100 tỷ đồng thì báo cáo kết quả nên trình bày thêm dòng "lãi không dành cho cổ đông" hoặc "lãi dành cho quỹ khen thưởng, phúc lợi": 10% x 100 tỷ đồng = 10 tỷ đồng; lãi dành cho cổ đông (để tính EPS) là: 100 tỷ đồng - 10 tỷ đồng = 90 tỷ đồng.
Theo Trần Xuân Nam, Maastricht MBA
Trần Xuân Nam, Maastricht MBA

Lộc trời (AGPP) đầu tư liệu có lời?

Những  ngày gần đây trên thị trường OTC đang giao dịch rất sôi động các cổ phiếu OTC chuẩn bị lên sàn trong quý 1 và quý 2/2017 như Petrolimex (42-44), VEAM (26-28), Lộc Trời (46-48), PV Power...Tôi đặc biệt quan tâm đến số cổ phiếu này về khả năng tạo ra lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp. Tuy nhiên, tôi chỉ xin được đề cập đến Lộc Trời trong bài biết này để xem liệu thương vụ mua OTC liệu có mang lại cho NĐT kết quả LN cao như kỳ vọng.

Lộc Trời - tên cũ của Công ty CP Bảo Vệ Thực Vật An Giang, được thành lập năm 1993 và được cổ phần hóa vào tháng 9 năm 2004 với vốn điều lệ 150 tỷ đồng. Từ một đơn vị kinh doanh nhỏ chỉ với 23 người, đến nay, Công ty Cổ phần Bảo vệ Thực vật An Giang đã trở thành nhà phân phối dẫn đầu thị trường Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, với đội ngũ nhân viên trên 1.300 người.
Tháng 12/2009: Công ty tăng vốn điều lệ từ 180 tỷ đồng lên 270 tỷ đồng bằng phương thức chia cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu.

Ngành nghề hoạt động chính:
  • Thuốc Bảo vệ thực vật
  • Giống cây trồng
  • Bao bì giấy các loại
  • Các dịch vụ du lịch
  • Sản xuất và kinh doanh lúa gạo
Phân tích báo cáo tài chính 2015 (hợp nhất):
Do hạn chế về thông tin nên tôi chỉ có thể dùng báo cáo tài chính 2015 được lấy trên website của công ty và theo dự báo của tôi trong năm 2016 công ty sẽ không tạo ra đột biến trong lợi nhuận.
  • Thứ nhất, ngành kinh doanh chính là thuốc bảo vệ thực vật và giống cây trồng thì phụ thuộc nhiều vào diện tích cây trồng hàng năm, và năm 2016 nếu lạc quan thì công ty cũng chỉ duy trì mức tăng trường đều.
  • Mảng lúa gạo là mảng kinh doanh mới của công ty, vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn: từ thương hiệu, nguồn nguyên liệu, khả năng xuất khẩu kém, chi phí đầu vào cao dẫn đến giá cao khó cạnh tranh được so với các nước như Campuachia hay Thái Lan và Ấn Độ.
  1. Báo cáo kinh doanh 2015

Biên lợi nhuận gộp chỉ giảm nhẹ từ mức 23% của 2014 về 22% trong 2015, tuy nhiên doanh thu giảm mạnh khoảng hơn 1.000 tỷ làm cho LN gôp 2015 giảm mạnh 300 tỷ đồng so với 2014.
Nhìn vào báo cáo KQKD có thể thấy công ty tăng vay nợ làm cho lãi vay phải trã tăng mạnh từ mức 80 tỷ lên 118 tỷ trong năm 2015, chưa kể các chi phí tài chính khác cũng tăng thêm 60 tỷ nữa. Tổng kết tổng chi phí tài chính tăng lên khoảng 100 tỷ, phần lớn do công ty đang gặp khó khăn trong hoạt động lúa gạo, chi phí đầu tư lớn và hiệu quả thấp (sẽ phân tích phần dưới).
Các khoản khác như chi phí quản  lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng công ty vẫn duy trì tỷ lệ không đổi trên doanh thu so với năm 2014.
Và kết quả cuối cùng là lãi cơ bản trên cổ phiếu của công ty giảm mạnh từ mức 7.800 đồng/cp năm 2014 xuống còn 4.800 đồng /cp năm 2015. (chưa tính việc công ty đã trả 3.000 đồng cổ tức/cp đầu năm 2016).
Ước tính của tôi cho lợi nhuận 2016 sẽ duy trì với lợi nhuận 2015, lý do:
  • Mảng lúa gạo chưa tạo ra lợi nhuận, thị trường lúa gạo VN xuất khẩu vẫn chưa thể cạnh tranh được so với các nước khu vực, còn bán trong nước thì gạo của LT chưa có thương hiệu. (nếu có chăng nữa cũng rất thấp là do công ty giảm khấu hao, hoặc giảm chi phí đầu vào bằng các biện pháp cooking report.)
  • Mảng kinh doanh truyền thống thuốc bảo vệ thực vật có tăng trưởng nhưng sẽ chậm lại, vì phần lớn phụ thuộc vào vùng nguyên liệu mà năm 2016 tình hình sản xuất nông nghiệp VN chưa tăng trưởng.
  • Mảng giống cây trồng: Tuy có lợi nhuận cao tuy nhiên thị phần rất hạn chế do phải cạnh tranh với các công ty như PAN, NSC, SSC....
  • Các mảng khác, doanh thu không đáng kể, chủ yếu tận dụng vào các hoạt động kinh doanh chính.
2. Phân tích bảng cân đối kế toán:
Tổng tài sản công ty tăng từ  5.702 tỷ trong năm 2014 lên 6.406 tỷ trong 2015, chủ yếu do công ty đầu tư thêm tài sản cố định khoảng 300 tỷ và tăng hàng tồn kho gần 900 tỷ và giảm khoản phải thu  ngắn hạn khoảng 500 tỷ.

Rủi ro và cooking báo cáo của công ty có thể được thấy ở đây, phần lớn hàng tồn kho của yếu là lúa gạo và thuốc bảo vệ thực vật. Mảng BVTV thì khỏi đề cập tới nhưng mảng lúa gạo của công ty đang làm đau đầu ban lãnh đạo khi mà lượng hàng tồn kho chiếm quá nhiều, hơn nữa việc để tồn kho lâu ngày sẽ làm chất lượng lúa gạo giảm nhanh => kém chất lượng và lại giảm giá bán => cao hơn giá vốn => thua lỗ. Bởi vì công ty chưa đưa vào dự phòng nên các khoản này chưa thực sự được hiện lên BCTC, nhưng nếu sau khi công ty thanh lý khối lượng hàng này thì BCTC sẽ thể hiện hết.


Tài sản cố định tăng trong năm chủ yếu đầu tư vào nhà xưởng và máy móc thiết bị, phần này chủ yếu để thực hiện đầu tư lớn cho mảng lúa gạo. 
Do công ty không có thuyết minh từng tài sản được phân ra theo mảng kinh doanh nên không thể phân tích được tỷ trọng tài sản đầu tư cho từng mảng.

Để minh chứng cho các số liệu ở trên, tôi tiến hành phân tích bên cơ cấu nợ, để xem công ty dùng biện pháp tài trợ nào cho việc tăng tài sản trong năm.
Có 2 mục cần chú ý ở đây:
  • Chiếm dụng vốn: Trong phần phải thu ngắn hạn công ty cũng  giảm  khoảng 500 tỷ đồng và phẩn phải trả người bán công ty cũng giảm hơn 100 tỷ đồng => công ty tăng được chiếm dụng vốn của khách hàng lên khoảng 400 tỷ
  • Nợ vay trả lãi: Tổng các khoản vay trả lãi của công ty năm 2015 lên đến 2.700 tỷ tăng khoảng 1.000 tỷ so với năm 2014. Phần lớn số tiền này được phân tích ở trên dùng tài trợ cho hàng tồn kho và tăng tài sản cố định. Chi phí lãi vay trung bình với chỉ ở mức tỷ lệ 4-4.5%
Dự báo của tôi với tốc độ bán hàng như hiện tại thì chi phí lãi vay của công ty sẽ tăng trong 2016 và 2017, khi các nhà đánh giá tín dụng chuyển sếp hạng tín dụng của LT qua mức độ rủi ro hơn. Giả sử họ tăng LS lên trung bình 6%/năm thì với số nợ hiện tại, tổng lãi phải trã tăng lên khoảng 45 tỷ đồng.

3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

Phân tích đến đây tôi nghĩ đa số các bác sẽ hiểu Bảng lưu chuyển tiền tệ nó sẽ như thế nào, vâng dĩ nhiên Lưu chuyển hoạt động kinh doanh chính sẽ tăng âm, hoạt động đầu tư cũng tăng âm và dòng tiền tài trợ sẽ dương để bù đắp. 
Do rất dễ nhận biết báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ như thế nào nên tôi sẽ không show lên đây để tránh bài viết quá dài.

Kết luận:

Tôi giả sử với giá bán hiện tại của Lộc Trời trên OTC là 48.000 đồng/cp thì với mức EPS dự báo năm 2016 từ 4.800-5.000 đồng/cp thì P/E đã sấp xỉ 10 lần.
Tuy nhiên, vấn đề tôi muốn nhấn mạnh ở đây là bản chất của việc lợi nhuận đó có thật chất hay chưa, khi mà công ty chưa mạnh tay trích lập dự phòng cho mảng lúa gạo.
(Đối với các cổ phiếu khác như VEAM, PLX tôi đánh giá rất tôt, nhưng nếu các bạn muốn hỏi nên mua giá nào thì hãy pm vào skype cho tôi tại địa chỉ liên hệ cuối blog. Chúc mọi người đầu tư thành công)

Nguồn: Phân tích của Lão Trinh. 


Những thủ đoạn và phương thức rửa tiền chủ yếu

Mục đích của hoạt động rửa tiền là làm cho đồng tiền “bẩn” trở nên sạch hơn hay nói cách khác là tạo ra một khoảng cách xa nhất giữa tài sản bất hợp pháp và chủ sở hữu những tài sản đó. Hình thức biểu hiện lợi nhuận có được ban đầu thông thường là “tiền”, nhưng sau các giai đoạn chuyển đổi để hợp pháp hoá đã có các hình thức biểu hiện khác như: ngân phiếu, thẻ tín dụng, bất động sản...
Những đồng tiền “bẩn” thường có được từ: (1) Nguồn tiền từ những lao động bất hợp pháp: buôn lậu ma túy, vũ khí, mại dâm và các loại hàng hoá bị cấm mua bán, trao đổi; Tiền của các tổ chức tội phạm có được do làm tiền giả, tống tiền, tổ chức đánh bạc; (2) Nguồn tiền tham nhũng: do tham nhũng, nhận hối lộ, tham ô của các viên chức nhà nước hoặc do lợi dụng chức vụ, địa vị trong bộ máy nhà nước mà có như lợi dụng việc biết trước các thông tin về chủ trương, chính sách, quy hoạch v.v... để trục lợi; (3) Nguồn tiền trốn thuế: Tiền có được do trốn thuế dù thu nhập là hợp pháp.
ảnh 1
Song, vì “bẩn” nên nó không thể trực tiếp đưa vào lưu thông, không thể sử dụng ngay được mà nó phải được rửa sạch thông qua rất nhiều phương thức và thủ đoạn khác nhau. Về cơ bản, chúng thường được rửa qua các hình thức sau:
ảnh 2
Các thủ đoạn rửa tiền rất phong phú đa dạng, song đều có đặc điểm chung là tận dụng những khe hở trong hệ thống pháp luật mỗi nước, nhất là pháp luật hình sự, tài chính, ngân hàng... Đó cũng là lý do vì sao các nước đang phát triển lại được coi là “mảnh đất màu mỡ của các loại tội phạm tài chính.
Các phương thức, thủ đoạn chủ yếu thường được sử dụng là:
- Rửa tiền qua các giao dịch đổi tiền mặt: Đây là phương thức rửa tiền truyền thống và chủ yếu của bọn tội phạm. Chúng thực hiện bằng cách đổi từ đồng tiền nước này sang đồng tiền của nước khác. Ví dụ như chuyển từ đồng USD sang đồng Bảng Anh…
- Rửa tiền thông qua việc mua kim loại quý như vàng, bạc, kim cương... là những tài sản gọn nhẹ, có giá trị cao, có thể mua đi bán lại ở mọi nơi, mọi thời điểm trên thế giới.
Đây là hai phương thức được bọn tội phạm sử dụng nhiều nhất do cách thức đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên các phương thức này lại dễ bị cơ quan điều tra phát hiện.
- Rửa tiền thông qua đầu tư vào gửi tiết kiệm, mua tín phiếu, trái phiếu: tiền sẽ gửi tiết kiệm vào ngân hàng hoặc mua tín phiếu, trái phiếu... làm cho đồng tiền nằm im trong một thời gian phù hợp với quy định với mỗi nước. Sau đó, người gửi tiền có thể rút ra toàn bộ gốc và lãi hoặc rút một phần, biến số tiền đó thành tiền hợp pháp.
- Rửa tiền thông qua hệ thống ngân hàng “ngầm”: ở một số nước mà hệ thống ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, thường tồn tại hệ thống ngân hàng không chính thức gọi là ngân hàng “ngầm”. Hệ thống ngân hàng “ngầm” này hoạt động và luân chuyển tài chính như các ngân hàng chính thức nhưng với chi phí dịch vụ rẻ hơn, bí mật hơn các ngân hàng hợp pháp. Các ngân hàng ngầm có đại diện ở nhiều nước khác nhau để thực hiện dịch vụ chuyển tiền từ nước này sang nước khác hoặc từ thành phố này sang thành phố khác trong cùng một quốc gia. Sự hoạt động của ngân hàng này chủ yếu dựa trên niềm tin giữa ngân hàng và bạn hàng nên thủ tục giấy tờ gọn nhẹ. Bọn tội phạm lợi dụng nguyên tắc giữ bí mật của những ngân hàng này đã đem tiền đến gửi và yêu cầu nhận lại ở một thành phố khác. Những địa chỉ cần nhận tiền tẩy rửa thông thường là những quốc gia khao khát đầu tư tài chính nhưng ít quan tâm đến nguồn gốc đồng tiền, việc thanh toán qua ngân hàng chưa phải là yêu cầu bắt buộc và phổ biến, hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền chưa nghiêm...
Nhìn thấy những thủ đoạn rửa tiền đã khó nhưng để có những giải pháp phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn còn khó hơn rất nhiều bởi nó đòi hỏi phải có sự phối hợp không chỉ trong phạm vi quốc gia mà phải trên phạm vi quốc tế./.

BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ _ PP GIÁN TIẾP

Bản chất LCTT là 1 sự sắp xếp lại báo cáo THU – CHI nhằm cung cấp thông tin hữu ích hơn. Đồng thời phân tích sự khác biệt giữa lợi nhuận và các dòng tiền. LCTT theo phương pháp trực tiếp thì căn cứ vào các nghiệp vụ phát sinh trong kỳ.

Hầu hết Lợi nhuận được tạo ra từ Hoạt động kinh doanh. Xác lập mối liên hệ giữa LỢI NHUẬN – TIỀN, cộng với việc hiểu: Tiền tạo ra từ đâu? Hiện tại đang ở đâu và dùng cho mục đích gì?.. sẽ được phản ánh trong báo cáo LCTT gián tiếp mà các bạn sẽ được tìm hiểu sau đây.


CƠ SỞ DỰA VÀO
            -Dữ liệu chính: Bảng Cân đối kế toán
            -Lấy, đối chiếu số liệu:
+Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh
+Bảng Cân đối số phát sinh
                        +Sổ chi tiết TK 3334
NGUYÊN TẮC
Thao tác trên Bảng Cân đối kế toán phép tính sau:
Số Cuối kỳ (cuối năm) – Số Đầu kỳ (đầu năm) = Số chênh lệch
Đem Số Chênh lệch này lên BCLCTT: trái/ cùng dấu (theo quy tắc bên dưới*)
THAY ĐỔI (TĂNG, GIẢM) VỐN LƯU ĐỘNG
BẢNG CĐKT

“Tiền” và “Tài sản khác tiền”:
                Biến động trái chiều*

Tiền
Nợ phải trả

Tài sản khác tiền
“Tiền” và “Nợ phải trả”:
                Biến động cùng chiều*

Vốn chủ sở hữu

Phía trên thể hiện Bảng CĐKT thành 2 cột:
            -Cột bên trái: Nhóm Tài sản, gồm có: Tiền + tài sản khác tiền
            -Cột bên phải: Nhóm Nguồn vốn, gồm có: Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Ví dụ:
Tên gọi
Số Cuối năm
Số Đầu năm
Chênh lệch
Thể hiện trên LCTT
Phải thu khách hàng
[Bên Tài sản]
100
90
+10
-10
Phải trả NCC
[Bên Nguồn vốn]
300
200
+100
+100

SDCK – SDĐK =  SPS TĂNG – SPS GIẢM

THỂ HIỆN SỐ LIỆU TRÊN BIỂU BẢNG
CHỈ TIÊU
MS
CÁCH LÀM
SỐ [+/-]
I-Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh




1.Lợi nhuận trước thuế
01
Mã số [50] trên KQHĐKD
Lãi
(Lỗ)
2.Điều chỉnh cho các khoản




-Khấu hao TSCĐ
02
Khấu hao trong kỳ
+

-Các khoản dự phòng
03
Các TK DP: 129, 229, 139, 159
+ (DP tăng)
- (Hoàn nhập)
-Lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện
04
Đối chiếu với TK 413
+ (Lỗ)
- (Lãi)
-Lãi, lỗ từ hoạt động đầu tư
05
TK 515
+ (Lỗ)
- (Lãi)
-Chi phí  lãi vay
06
Lãi vay trong kỳ
+

3.Lợi nhuận từ HĐKD trước thay đổi vốn lưu động
08



- Tăng giảm các khoản phải thu
09
Chênh lệch các khoản Pthu
- (CK - ĐK)

- Tăng giảm hàng tồn kho
10
Chênh lệch HTK
- (CK - ĐK)

- Tăng giảm các khoản phải trả (Không kể lãi vay phải trả, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp)
11
Chênh lệch các khoản phải trả (NCC, NLĐộng, thuế khác thuế TNDN, trả khác)
+ (CK - ĐK)

- Tăng giảm chi phí trả trước
12

- (CK - ĐK)

- Tiền lãi vay đã trả
13
Lãi vay trả trong kỳ
-

- Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp
14
Thuế TNDN thực nộp
-

- Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh
15

+

- Tiền chi khác từ hoạt động kinh doanh
16

-

Lưu chuyển tiền thuần từ HĐ kinh doanh
20



*GHI CHÚ:
-Phần 2, 3: Lưu chuyển tiền từ Hoạt động đầu tư và tài chính:
+Lập theo phương pháp trực tiếp;
+Hoặc theo cách của phương pháp gián tiếp.
-Thông thường, số liệu ở MS 05 = MS 27; MS 06 = MS 13 (chỉ khác dấu)
-MS 61: Ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ
Trường hợp cuối năm tài chính, kế toán đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, nhưng chưa 
xử lý (nghĩa là: số dư đó vẫn còn nằm ở TK 413. Chưa kết chuyển sang 515 hoặc 635)
Chênh lệch lãi
Chênh lệch lỗ
Nợ TK 111/ 112
            Có TK 413
Nợ TK 413
            Có TK 111/112
Các bạn dựa vào số phát sinh của 413, lấy số liệu đó ghi nhận vào MS 61 trên LCTT.
Chúc các bạn thành công!
                                                     Nguồn: nguyenthuyduong.com

Dịch vụ Thiết kế website và Dịch vụ seo CIP giúp cho thương hiệu của bạn tiếp cận thị trường online.