72 kế của thầy Tôn Tẩn

Gồm có 72 phép :
Trong tĩnh có động ,trong động có tĩnh . “Biến sinh ra sự ; Sự sinh mưu ; Mưu sinh kế ; Kế sinh nghị ; Nghị sinh thuyết ; Thuyết sinh tiến ; Tiến sinh thoái ; Thoái sinh chế (chế ngự sự việc).

Quỷ cốc tử cho rằng : Trên đời vốn không có việc gì khó, mọi việc toàn là do con người đặt ra, bố trí mà thôi. Chỉ cần không ngừng nghiên cứu thực tiễn, thì có thể đạt được mục đích của mình .
-  Phép thứ 1 ương mưu –Âm mưu
“Mưu kế trí lược, mỗi cái đều có hình dạng của nó: hoặc vuông hoặc tròn, hoặc âm hợặc dương”.
Mưu kế có âm mưu và dương mưu, trong bất kỳ tình huống nào, người ta đều không được coi thường đối phương. Bởi vì sự việc, có những việc giả dối mà đối phương cố ý tạo ra. Tình báo cũng có tình báo giả. Cho nên thánh nhân phải làm cho đối phương không thể dò biết thực hư, Như nhà buôn phải dấu kín như không có chuyện gì .
Âm mưu ở đây không phải là thứ thủ đọan của bọn tiểu nhân, mà là âm mưu của thánh nhân .
Mưu việc ở âm mà thành sự ở dương. Mục đích là làm cho dân giàu nước mạnh.
Cho nên Quỷ cốc tử lại nói: Thánh nhân mưu ở âm nên gọi là Thần, thành ở dương nên gọị là Minh, chủ sự thành tức là tích đức vậy.
- Phép thứ 2 :Xoay chuyển Càn khôn
Giữ vững ý chí, tinh thần thì sẽ có uy lực. Có uy lực ắt bên trong mạnh, bên trong mạnh thì không ai địch nổi”.
Quỷ cốc tử cho rằng: khi tình thế bất lợi cho ta, ta phải dùng trăm phương ngàn kế để hàm dưỡng sức mạnh tinh thần, và chỉ khi nào sức mạnh tinh thần của ta hùng hậu thì mới có thể Xoay chuyển càn Khôn.
- Phép thứ 3: Đánh bại lần lượt
“Phân tán được uy thế của đối phương thì ta mạnh như thần”.
Muốn phân tán uy lực của đối phương thì ta phải phục sẵn, chờ cơ hội xuất hiện mà lần lượt đánh bại đối phuơng.
- Phép thứ 4: Ứng biến thần tình 
“Tiến thoái xoay trở, xuất quỷ nhập thần khiến người không biết đâu mà lần”.
Khi tác chiến ta phải tùy cơ ứng biến không hề cố định, xoay chuyển tùy ý muốn, khiến cho đối phương chẳng biết thực hư.
- Phép thứ 5: Giành hết thiên cơ
“Thánh nhân ở giữa trời đất: lập thân, tạo nghiệp, lên tiếng, tuyên truyền đều phải quan sát tượng trời để chớp đúng thời cơ”
Một người cao minh, trước sự biến đổi mau lẹ của sự vật, sẽ biết nắm lấy thời cơ, vận hội 1 cách kịp thời mà thực thi, hoặc điều chỉnh kế họach của mình .
- Phép thứ 6: Họa phúc tùy lời 
“Lời lẽ của Thánh nhân rất huyền diệu, có thể chuyển nguy thành an, cứu cả mạng sống”.
Thế gian có câu: “Một lời nói ra, ngựa giỏi chẳng đuổi kịp”. Hàn Phi Tử nói : “Cái tâm của kẻ vô mưu, lời lẽ của kẻ có mưu: đều là nguy”. Ngụ ý rằng người ta phải thận trọng trong lời ăn tiếng nói .
Ngôn ngữ là tiếng lòng, là biểu hiện tư tưởng .
Tục ngữ Trung quốc có câu : “Muốn biết việc trong bụng, hãy nghe lời cửa miệng “. Họa phúc là tùy ở lời nói vậy.
- Phép thứ 7: Chúng bất địch quả
Quỷ cốc tử nói : “Xuân sinh; hạ trưởng; Thu thu; Đông tàng. Đạo trời là vậy, chẳng thể làm trái.” Lại nói : “Làm trái, dù thịnh ắt suy”.
Trời đất có 4 mùa thay đổi, nhân sự cũng có quy luật biến hóa của nó, mỗi người nếu có hành động trái ngược với quy luật phát triển của sự vật, thì dù thế lực lớn mạnh đến mấy cuối cùng cũng sẽ thất bại .
Một người, nếu hành động đúng theo quy luật phát triển của sự vật, thì dù hiện thời còn đơn thương độc mã, nhưng rồi vẫn có thể lấy ít thắng nhiều.
- Phép thứ 8 : Trăm phương ngàn kế 
“ Vạn sự trên thế gian biến hóa vô cùng, tình hình lúc thế này khi thế khác. Người đời cũng trăm phương ngàn kế”. Một vị chủ soái ắt hẵn cũng phải nắm vững nhiều lọai mưu kế để ứng phó với tình huống không ngừng thay đổi.
- Phép thứ 9 :Thiên địa vô thường
“Trời đất luôn thay đổi há có gì trường cửu”.
Một cái lý chung xuyên suốt giữa trời và người. Khi trời luôn đổi, nhân sự làm sao bất biến. Một người chỉ 1 mực theo đuổi truyền thống mà không chịu đổi mới, ắt sẽ bị lạc hậu so với thời cuộc.
- Phép thứ 10 : Thay cũ đổi mới 
“Uốn lượn thì toàn vẹn, cong ắt sẽ qua,đầy ắt sẽ tràn ,rách nát sẽ đổi mới ,ít rồi đủ ,nhiều ắt giảm”.
Thay cũ đổi mới là quy luật phát triển của vạn vật trong vũ trụ . Song sáng tạo cái mới bao giờ cũng dựa trên cơ sở truyền thống sẵn có .Không kế thừa truyền thống thì đừng nói gì đến sang tạo cái mới .
Phải hiểu thấu đáo truyền thống mới có thể tiếp nhận tinh hoa và gạt bỏ cặn bã ,từ đó mà phát huy thêm tinh hoa của truyền thống. 
-Phép thứ 11:Nhìn xa trông rộng 
“Bậc đại trí dùng cái mà mọi người không hay biết ,cũng dùng cái mà mọi người không nhìn thấy”.
Cái mà mọi người không hay biết ,không nhìn thấy thì chỉ có bậc đị trí mới thấy rõ .Như vậy gọi là “biết nhìn xa trông rộng”.
-Phép thứ 12 :Xử lý linh họat
“Lợi hay thiệt ,được hay mất ,nhiều hay ít …đều dùng âm dương chế ngự .dương động mà vận hành ,âm tĩnh mà thu tàng .dương động mà hiện ra ,âm theo mà nhập vào .Dương cực sinh âm ,âm cực sinh dương”.
Vạn vật trong thiên hạ luôn luôn thay đổi .Khí hậu có 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông luôn đổi thay .Đời người có sống chết ,đủ thấy biến đổi là quy luật phát triển của vạn vật .Ta phải linh họat chứ không máy móc xử lý mọi việc mới có thể : “Thắng không kiêu ,bại không nản”.
-Phép thứ 13 :Mưu thâm thích hợp :
“Phàm theo hay bỏ ,thuận hay nghịch phải tùy theo hoàn cảnh .Hợp ở mưu ắt thành ở sự .Bỏ ta theo ngươi hay bỏ người theo ta :ấy là do mưu thuật có tòan vẹn hay không ?
Dùng thiên hạ có mưu kế này ,dùng một nước có mưu kế khác ,dùng 1 phái có mưu kế nọ,dùng 1 người có cách dùng riêng .Lón nhỏ tiến thoái …đều có cách thích hợp .
Xưa nay, kẻ giỏi xoay trở :theo hay bỏ, giúp được 4 biển, chi phối được chư hầu đều trải qua lắm phen chuyển hóa, theo hay bỏ ,mới tìm ra chổ thích hợp .
Cho nên Y Dõan mấy bận theo vua Thang ,mấy bận theo vua Kiệt, cuối cùng mới theo vua Thang .
Lã Vọng 3 lần theo Văn vương, 3 lần nhập điện vẫn chưa thật rõ. Cuối cùng mới hợp với Văn Vương”.
-Phép thứ 14: Hành động bí mật:
“Đạo âm của Thánh hiền, đạo dương của kẻ ngu, đạo của Thánh nhân ẩn giấu rất kỹ”.
Tướng soái khôn ngoan thường tạo nên những cái giả để mê hoặc đối phương ,ngấm ngầm hành động để giáng cho đối phương những đòn trí mạng.

- Phép thứ 15 : Đột phá điểm yếu
“Từ ngoài chế ngự bên trong ,sự việc có điểm cốt lõi phải nhắm vào đó”.
Muốn khống chế nội tâm kẻ khác thì phải nắm chắc: đâu là điểm mấu chốt ,đâu là chồ yếu để mà chĩa mũi nhọn vào đó.
- Phép thứ 16: Nhỏ mà thấy lớn 
“Quan sát sự việc, luận về vạn sự, chớ tranh hơn thua. Phải biết nhìn: cái tuy nhỏ nhưng mà nhìn thấy nó lớn lao”.
Người thông minh chỉ căn cứ vào triệu chứng nhỏ bé mà biết nó tiềm ẩn sự kiện trọng đại.
-Phép thứ 17: Đổi vai chủ - khách
“Mạnh tích tụ từ yếu, Có tích tụ từ không. Yếu muốn thắng mạnh ,mềm muốn thắng cứng thì phảỉ tích yếu ,tích mềm”.
So sánh thế giữa chủ và khách để đổi vai chủ khách .
Đó cả là 1 nghệ thuật.
- Phép thứ 18: Chiêu nạp người hàng 
“Cự tuyệt là bịt kín lối vào ,đề phòng quá kỹ thì chẳng ai theo”.
Một vị chủ soái thông minh thì phải có khí phách của 1 chính trị gia vĩ đại ,sẵn sàng chiêu nạp những ai muốn chạy về phía mình .
- Phép thứ 19: Ứng địch hành động
“Tuy động mà ứng, việc gì cũng xong”.
Ứng nghĩa là chuyển động sau người, bất đắc dĩ mới động .”Ứng” đây không phải là thái độ tiêu cực ,bất đề kháng ,mà là dùng “Vô vi” để đạt tới cảnh giờ “Vô bất vi” 
Một cá nhân ,nếu ở đâu cũng hiếu thắng ,tranh giành hơn thua: thì thể lực và tinh thần sẽ bị hao tổn rất nhanh, tuổi thọ sẽ chẳng được lâu bền
Ngược lại, nếu hiểu rõ lẽ “ứng địch nhi động” thì sẽ không vọng động 1 cách khinh xuất. Mà không ngừng rèn luyện thể lực và ý chí 1 cách nghiêm túc, cho đến khi hòan tòan có khả năng thắng địch thì mới hành động ,
Không làm thì thôi, mà đã ra tay thì không có gì cản nổi .
Đã đánh là thắng.
- Phép thứ 20: Tam giáo cửu lưu
“Tìm kiếm nhân tài ,phải tìm khắp xa gần. Phải có người tài về từng phương diện để khi cần thì ta có thể xử dụng”.
Một người múôn dựng nghiệp lớn thì phải chiêu nạp nhiều tài năng .
Tử Nghiêm là người nước Trịnh rất biết chọn và dùng người. Công Tôn Huy am hiểu tình hình 4 nước .
Tỳ Thâm thì giỏi bày mưu.
Phùng Giản Tử có tài phán đóan mọi sự .
Tử Đại Thúc thì văn hay chữ tốt.
Gặp sự việc liên quan giữa các nước. Tử Nghiêm hỏi Công Tôn huy, sau đó bàn mưu tính kế với Tỳ Thâm ,đọan để Phùng Giản Tử phán đoán mọi khả năng diễn biến của sự việc .Sau khi xong việc bèn để Tử Đại thúc sọan lời văn ứng đối với quan khách các nước.
-Phép thứ 21: Bổ dọc chen ngang
Quỷ Cốc Tử nói : “Dùng cách phân tán uy quyền để chuyển quyền” .
Người tài giỏi nhất phải biết phá vỡ sự liên minh của các đối thủ phân tán uy lực của chúng mà tăng cường uy thế của mình.
- Phép thứ 22: Trói buộc chi phối
“Lập thế tạo thế. Phải quan sát, nghe ngóng, xác định mức độ của người và việc mà định kế an nguy .Xem thiên thời thịnh suy, địa hình rộng hẹp của các quốc gia, tài sản của dân chúng, quan hệ giữa các chư hầu mà dùng thiên hạ.
Xem tài năng, khí thế, sức vóc mà dùng người .
Xem cái gì, người nào cần giấu diếm hay phô bày; cần dung nạp hay mời chào. Xem Đông Tây, ngó Nam Bắc. Rồi dùng mọi biện pháp khả dĩ để chi phối, trói buộc 1 cá nhân, một tập đòan hay 1 quốc gia làm theo ý múôn của, mà không thể nào làm khác được” .
- Phép thứ 23 : Liệu địch như thần
“Ngồi 1 chổ mà nắm biết mọi chuyện trong thiên hạ”.
Bậc đại trí có thể qua mọi diễn biến phức tạp, chằng chịt, qua hiện tượng mà nhận biết phương hướng hành động thật sự của đối phương.

- Phép thứ 24: Không lừa nổi ai
“Kế sách dù muôn ngàn kiểu, cuối cùng cũng không nằm ngoài tâm lý con người”.
Người thông minh, tỉnh táo, từ triệu chứng nhỏ nhặt tưởng như không đáng kể mà nắm bắt được sự kiện trọng đại để phá vỡ âm mưu của đối phương.
- Phép thứ 25: Yếu thắng được mạnh
“Mạnh tích tự từ yếu; Có tích tụ từ không. Đó là cả 1 nghệ thuật”.
Yếu múôn thắng mạnh, mềm muốn thắng cứng thì phải tích yếu, tích mềm.Yếu và mạnh chỉ là 1 cách nói tương đối. Trong tình huống nhất định, yếu cũng có thể thắng được mạnh.
-Phép thứ 26 : Biến không thành có 
“Thần đạo hỗn thuần vi nhất, dù đạo trời phức tạp đến mấy cũng có thể suy diễn bất tận”.
Bậc quân tử hay thống soái có thể suy luận hàng vạn lý lẽ biến hóa trên thế gian để lý giải các bí ẩn vô cùng vô tận.
-Phép thứ 27: Uốn ba tấc lưỡi
“Lời lẽ khôn khéo hay giả dối đều lợi hại khôn tả”.
Người khôn khoan thường lợi dụng ngôn từ để vẽ ra lâu đài trên cát, kích thích người ta hăng hái hay dẫn dụ đối phương mắc lừa .
Múôn được vậy thì phải tô điểm cho thất khéo và nói năng phải thật hùng hồn,đầy sức dẫn dụ và thuyết phục.
-Phép thứ 28 :Thu phục nhân tâm
“Dùng tâm hệ trọng hơn dùng binh”.
Dùng binh vẫn phải lấy việc dùng tâm làm nguyên tắc cao nhất. Chỉ dùng binh mà không dùng đến tâm thì rất là nguy hiểm. Bởi lẽ dùng binh vốn là để giết địch, nếu ta thất bại thì địch sẽ giết ta. Cho nên dùng binh cũng có thể đem lại hậu quả “tự giết mình”.
Dùng binh hòan toàn không chỉ giới hạn ở việc dùng mệnh lệnh hay kỷ luật bắt người ta phục tùng, mà còn phải làm co người ta “tâm phục”. Lòng người đã phục thì dù hành động, động tác có thể chệch chọac, song hết thảy đều đồng lòng như một.
-Phép thứ 29: Một công đôi việc
“Vừa lợi cho mình mà cũng lợi cho người,trên hay mà dưới cũng tốt”.
Một mưu kế phải đem lại nhiều hiệu quả thì mới là kế hay ,kiểu như một mũi tên mà bắn trúng 2 con chim.
-Phép thứ 30: Bốn lạng ngàn cân
“Lượng quyền là gì? Là đo lường lớn nhỏ -xác định nhiều ít”.
Tướng soái thì phải “biết mình biết người”: mới có thể dùng sức “ bốn lạng mà thắng ngàn cân”.
Thông thừơng thì 4 lạng có thể bị đè bẹp bởi ngàn cân. Nhưng nếu sức bốn lạng khôn khéo tránh né sức ngàn cân, rồi sau đó giáng đòn thì có thể hòan toàn thắng ngàn cân.
-Phép thứ 31 : Ngàn vàng phá địch
“Mọi sự đều có sự cố kết bên trong ,có thể dùng tiền tài ,nhan sắc để phá vỡ sự cố kết ấy”.
Dùng nhiều tiền để mua chuộc ,ly gián nội bộ đối phương có thể thu được thắng lợi mà ở chiến trường không thể nào giành được.
-Phép thứ 32: Chủ động quyền biến
“Sự việc quý ở chổ mình chủ động, nếu để cho người giành được phần chủ động thì hỏng”.
Người chủ động thì mới giành được quyền hành, quyền biến. Đã bị động thì khó mà đạt được thắng lợi. Khi lâm sự phải sáng suốt, cân nhắc lợi hại ,bỏ cái lợi nhỏ mà tránh cái hại lớn ;nhận cái hại nhỏ để giành cái lợi lớn .
-Phép thứ 33 :Tuyệt đối bí mật
“Giữ kín mưu đồ thì việc mới thành”.
1 vị thống soái hay tướng lĩnh muốn giành thắng lợiphải tuyệt đối giữ bí mật. 
-Phép thứ 34: Kích động vua chúa.
“Tiếp xúc ,phán đoán có nhiều cách :hoặc dùng binh ;hoặc dùng chính ,hoặc dùng hỉ ,hoặc dùng nộ…Dùng nộ là kích động”.
Người kkhôn ngoan chẳng những dùng lời lẽ để thuyết phục ,phân trần ,mà còn phải dùng những lời lẽ để kích động ,nói khích vua chúa.
-Phép thứ 35 : Kế sách lâu dài
“Người thông minh thì luôn nhìn cái rất xa để mà kiểm nghiệm”.
Người khôn ngoan thì phải biết nhìn xa trông rộng ,sẽ không tham cái lợi nhỏ mà để mất cái lớn ,tham cái lợi trước mắt mà quên kế sách lâu dài.
Người có đảm lược thật sự thì biết tính tóan sâu xa,chu đáo ,không chỉ thấy cái trước mắt ,không chấp nê tập quán thông thường.
-Phép thứ 36 :Biết trước thời thế
“Dự đóan thời thế để quyết định lợi hại ,quyền biến”.
Một thống soái hay 1 tướng lĩnh nắm được thời là điều trọng yếu .Họ phải hành động lặng lẽ một khi hết thảy chưa ai chú ý ,đến lúc thời cơ chín mùôi là họ ra tay:lập tức làm nên chuyện lớn.
-Phép thứ 37: Không đánh vẫn oai
“Người cầm quân không cần lâm trận mà vẫn làm chủ được thiên hạ ,thế mới đáng gọi là Thần minh”.
Bậc đại trí không cần hao tổn binh lực vẫn khiến cho đối phương phải bãi binh cầu hòa ,thiên hạ nể phục ,đủ sánh với Thần minh.
-Phép thứ 38 : Nắm quyền bá chủ 
“Chư hầu chống nhau nhiều không kể xiết .Khi quốc gia buớc vào thời điểm sinh tử tồn vong .Bậc vĩ nhân xuất chúng phải xuất đầu lộ diện nắm lấy cơ hội kiến lập nghiệp vương bá.
-Phép thứ 39:Thay thù thành bạn
“Trên đời không có gì quý mãi ,không có ai làm thống soái vĩnh viễn”.
Thế sự biến hóa vô cùng ,hôm nay họ là kẻ thù ,nhưng ngày mai có thể họ sẽ là bạn của ta ,hoặc ngược lại .
Đó là cả 1 nghệ thuật chuyển hóa.
-Phép thứ 40 : Chỉ dẫn do người
“Tình mà hợp thì vật cũng tụ lại với nhau.Đống củi gần lửa lúc khô dễ bén.Nước rót xuống chổ đất bằng ,nơi nào ẩm thì nước sẽ dừng lại”.
Lòng người cũng vậy .Một thống soái muốn thuyết phục hay là lợi dụng tướng sĩ của đối phương thì phải làm sao cho họ thấy,họ phải chịu ân huệ của mình .
-Phép thứ 41 :Chiêu hiền đãi sĩ
“Dùng mưu kế .Công không bằng tư ,tư không bằng kết,kết sao cho chặt”.
Có nhiều cách kết : có nội kết ;ngoại kết ;sinh kết ;tử kết…
Trương Lương kết thân với Hạng Bá :đó là nội kết.
Trương Nghi –Tô Tần : ấy là ngoại kết.
Lấy đức và ân huệ đã người ,mưu phúc cho dân ,mưu lợi cho nước :ấy là sinh kết.
Tuyên dương người chết ,úy lạo thân thuộc người đã hy sinh :ấy là tử kết.
-Phép thứ 42: Áp đặt chủ quan
“Chớ áp đặt sở thích của mình cho người”.
Cái mình thích co thể người ta không thích ;cái mình ghét có thể người ta lại ưa .Chớ nên suy bụng ta ra bụng người.Cùng 1 sự việc nhưng 2 người nhìn nhận lại khác nhau :kẻ cho là lợi ;người cho là hại .
Nếu chủ quan áp đặt dễ phạm sai lầm ,gây hậu quả đáng tiếc.
-Phép thứ 43 : Mâu thuẫn thống nhất
“Cao mà hóa thấp –lấy mà hóa cho –mất mà hóa được”.
Sự vật bao giờ cũng có 2 mặt đối lập nhau,Có những việc bề ngoài tưởng chừng như bất lợi đối với ta ,nhưng thực chất lại hàm chứa ích lợi to lớn đối với ta.
-Phép thứ 44 :Thủ trước công sau
“Đối phương hùng mạnh thì ta tạm lui chờ thời chuyển biến”.
Một quốc gia ,1 qu6n đội hùng mạnh cũng có lúc phải sơ hở ,suy yếu .
Một quốc gia ,1 quân đội suy yếu ,nếu biết tích lũy thực lực ,nín lặng chờ thời thì có thể trở nên hùng mạnh .Bấy giờ có thể chuyển từ thế thủ sang công.
-Phép thứ 45 :Kiên tâm bền chí
“Anh hùng có lúc cũng sa cơ .Khốn tới cùng ắt biến”.
Người có chí lớn thật sự gặp bất cứ hòan cảnh khó khăn nào cũng kiên trì theo đuổi mục đích của mình ;có thể chịu đừng ,nếm trãi những nổi đau khổ mà người đời không mấy ai chịu nổi .
Chỉ như thế mới có thể tạo nên sự nghiệp lớn lao.
-Phép thứ 46 : Lấy tĩnh chế động
“Trong thiên hạ : con cái thường hay lấy tĩnh đễ thắng con đực ,con cái lấy tĩnh nên ở dưới”.
Hòan cảnh luôn biến động ,nhân sự thường có đua tranh hơn kém .Trong cuộc tranh đua phải bình tỉnh thì mới giữ được tỉnh táo ,không bị mê lọan về thần trí .
Phàm người cương gặp kẻ cương thì sẽ tranh chấp không ngừng ,nhưng gặp người nhu thì sẽ trở nên nhu hòa.
Cho nên mới có câu : Lạt mềm buộc chặt .
Kẻ cương rất dễ bộc lộ điểm yếu ,ta chỉ cần bình tĩnh quan sát ,đợi cho chỗ yếu lộ ra ắt sẽ chế ngự được.
-Phép thứ 47 : Quyết giữ chính nghĩa
“Bậc quân tử có chính nghĩa thì mới chiêu mộ được hiền tài”.
Ta phải là chính đạo thì mới thu phục được lòng người theo về.
-Phép thứ 48 : Đánh vào chỗ yếu
“Người đời có người thích yên tĩnh ,có kẻ thích hành động ,có người hám danh ,có kẻ hám lợi ,có người chính trực ,có kẻ xiểm nịnh ,có người thích sáng sủa ,có kẻ ưa tăm tối”.
Người khôn ngoan thì phải hiểu rõ điểm yếu của đối phương để mà đánh vào đó.
-Phép thứ 49 :Ghi công quên lỗi
“Bậc trí giả không dùng sở đỏan ,mà dùng sở trường của người ngu.Không chú ý đến lỗi lầm mà sử dụng công lao của họ cho nên không bị khốn”.
Bậc quân tử đối với quần thần phải khoan dung độ lượng như thế ,quần thần mới cảm kích mà đền đáp.
-Phép thứ 50 :Hạ chiếu cầu hiền
“Thánh nhân dùng vô vi đãi người có đức”
Bậc thánh minh phải nghĩ mọi cách ,phải dùng lời lẽ thế nào để thu phục người hiền tài ,đức độ”.
-Phép thứ 51 :Lưu danh muôn thuở
“Bậc hiền sĩ dù đã qua đời ,vẫn được mọi người nhắc đến như có tình sâu nghĩa nặng”.
Có những kẻ sống trên đời chỉ biết tranh danh đọat lợi ,tàn sát hung hãn như mãnh thú .Có kẻ đạt được danh lợi thì kiêu căng tự mãn ,bị tiền của và nữ sắc làm mê muội tâm trí ,dù có sung sướng hưởng lạc vài chục năm nhưng khi chết đi sẽ để lại tiếng xấu ngàn thu.
-Phép thứ 52 :Thoái binh chế binh 
“Có thuật lui binh ,có phép chế binh”.
Ngụ ý là 1 người bình tĩnh ,thận trọng ,luôn làm điều thiện ,đức độ cao cả,thhì dù 1 thân 1 mình đi vào hang ổ đối phương ,cũng có thể làm cho đối phương phải kính nể không dám tàn hại .Một người như vậy thì nơi nào cũng là đất sống ,không có gì đáng gọi là hiểm nguy.
-Phép thứ 53 :Đại hiền vô địch
”Người giỏi quyền biến là người : trên thông thiên văn ,dưới tường địa lý ,sai khiến quỷ thần ; tùy thời tiết từng mùa mà biến hóa ,khiến cho vạn vật trong thiên hạ phải phục vụ cho mình”.
-Phép thứ 54 :Tiến công nước-người
“Chế ngự người thì nắm được quyền.Đồng thời với việc tiến công nước địch phải chế ngự được người của địch”.
-Phép thứ 55 : Giữ thế cân bằng
“Ít rồi sẽ nhiều ,thiếu rồi sẽ đủ”
Vạn vật trên đời vờua đối lập vừa thống nhất .Lão Tử cũng nói “Đạo trời giống như chổ cao thì dựa vào chổ thấp ,chổ thừa thì bù vào chổ thiếu”.Giữ cho cân bằng,hài hòa là điều tối cần thiết.
-Phép thứ 56 : Ẩn náu chờ thời
“Dụng chi hữu đạo ,dụng chi tất ẩn” .Lại nói “Có đạo của Tiên vương ,có mưu của thánh trí ,thảy đều không lộ liễu”.
Người thông tuệ thường thường ít bộc lộ sở trường của mình ở tất cả mọi nơi ,mà luôn luôn hường nhịn người khác .Nhưng sự ẩn giấu này chỉ là để chờ thời cơ chin muồi sẽ hiển lộ.
-Phép thứ 57 : Sử dụng nội gián
“Con Gấu trước khi vồ mồi thường giấu mình rồi mới xông ra .Muốn hành động thì trước tiên hãy dùng nội gián”.
Người khôn ngoan chẳng những giỏi dùng binh trên chiến trường,mà còn biết cài gián điệp vào hàng ngũ của đối phương để họat động.
-Phép thứ 58 : Uốn nắn sửa sang
“Thánh nhân vừa thấy cong bèn uốn nắn lại cho thẳng ,tùy mức độ lệch lạc mà có cáchtrị thích đáng”.
Khi nền chính trị quốc gia xuất hiện nguy cơ,phải dùng quốc pháp bổ cứu.Nếu nguy cơ nghiêm trọng ,tất phải dùng hình phạt nghiêm khắc.
-Phép thứ 59 : Lùi để tiến tới
“Người giỏi dùng thiên hạ xưa nay tất phải lượng định quyền trong thiên hạ,phải phân biệt nặng nhẹ ,mạnh yếu”.
Bậc hhiền minh thường tránh kẻ mạnh,tạm lùi để tìm cách tiến công.
-Phép thứ 60 :Cho rồi mới lấy
“Muốn chiếm lĩnh được gì của đối phương thì trước hết phải đáp ứng phần nào ý muốn của đối phương ,rồi mới lấy được cái mình cần”.
-Phép thứ 61 :Quan sát gián tiếp
“Thẩm định hư thực,căn cứ vào thị hiếu mà biết ý chí”.
Muốn xem xét 1 người,ta hãy xem thường ngày họ bộc lộ ý thích gì để mà phán đóan tình hình.
-Phép thứ 62 :Đánh rắn dập đầu
“Kẻ mạnh khi chiến thắng thường chóang váng vì thắng lợi,không tấn công giành thắng lợi trọn vẹn,sớm thỏa mãn thì sẽ chuốc lấy tai họa .
Kẻ yếu bị thất bại ,nếu biết bình tĩnh suy xét rút ra bài học ,phục hồi lực lượng ,thì có thể lật ngược thế cờ.
-Phép thứ 63 :Chủ quan hại mình
“Hợp mà không kết ,dương thân mà âm sơ:sự chẳng thành”.
Có những việc tưởng chừng vô cùng thuận lợi,thực ra hết sức khó khăn.Phải đi sâu vào cuộc sống ,nghiên cứu điều tra nắm chắc thực tế ,mới không phạm sai lầm chủ quan,đã làm hại cho mình ,còn hại cả cho người
-Phép thứ 64 : Dẫn dụ đối phương
“Những điều dẫn dụ của thánh nhân :kẻ ngu lẫn kẻ trí đều không nghi hoặc”
Bậc đại trí có thể khôn khéo dẫn dụ được hết thảy mọi người mà đối phươngkhông hề hay biết.
-Phép thứ 65 :Lợi dụng kẻ địch
“Thả mồi sâu bắt cá lớn”.Bậc đại trí không những chỉ biết sử dụng những người hiền tài ở phe mình ,mà còn biết lợi dụng những khe hỡ,những mâu thuẫn trong nội bộ đối phương mà sử dụng người của đối phương phục vụ lợi ích cho mình.
-Phép thứ 66 :Một cây thành rừng
“Đơn thương độc mã vẫn có thể ra vào tùy ý không ai ngăn nổi”.
Đông người vẫn chưa chắc là đã giành phần thắng .Một bàn tay cũng có thể tạo nên tiếng vỗ:chỉ cần chân lỳ thuộc về ta ,thì ta vẫn thành vô địch trong thiên hạ.
-Phép thứ 67 :Tương quan lợi hại
“Dùng lời lẽ để thuyết phục đối phương nhận ra điều phải trái”.
Muốn cho đối phương hành động làm theo ý mình thì ta phải biết khôn khéo thuyết phục ,chỉ rõ điều lợi hại.
-Phép thứ 68 :Hình dung có địch
“Nghĩ rằng có địch để mình nổ lực”
Muốn lập nên sự nghiệp lớn ,phải biết hình dung những thế lực lớn mạnh ngăn cản bước tiến của mình ,từ đó mà ta cố gắng không ngừng để vươn tới mục đích.
-Phép thứ 69: Học hỏi kẻ thù
“Muốn chiến thắng thì phải biết học hỏi ở tất cả mọi người”.
Bậc địa trí khi mưu nghiệp lớn chẳng những học hỏi ở những bậc tiên hiền,mà còn học hỏi những cái hay của chính kẻ thù.
-Phép thứ 70 :Nói mãi phải tin
“Lời nói của số đông có thể biến không thành có”.
Nếu giỏi tung tin thì có thể đánh lạc hướng đối phương.
-Phép thứ 71 :Luồn sau leo cao
“Phái gián điệp luồn sâu vào đầu não đối phương mà hành động ,có thể dành thắng lợi lớn lao bất ngờ”.
Nếu gián điệp của ta mà len lõi sâu vào bộ chỉ huy của địch thì thắng lợi gần như cầm chắc.
-Phép thứ 72: Không màng danh lợi
“Bậc chân nhân hợp với đạo trời”
Một người kinh qua tu luyện lâu dài đạt tới cảnh giới thóat tục thì gọi là “Chân nhân”.
Người ta khi sinh ra ban đầu không khác nhau là mấy .Chỉ sau đó do môi trường ,hòan cảnh khác nhau ;do sự tu luyện nhiều hay ít mà thành ra những hạng người khác nhau.
Người nào chìm đắm trong danh lợi ắt chuốc lấy họa sát thân .
Người nào không màng danh lợi thì sẽ thanh thản vui sướng.

Việc lớn muốn thành cần phải có “tĩnh khí”

“Đối diện với mỗi việc lớn cần phải ‘tĩnh khí'”, đây là câu nói mà thầy giáo của hai vị Hoàng đế cuối đời nhà Thanh đã dạy bảo học trò của mình.
Lao Tu
Ông cho rằng: Từ xưa đến nay, các bậc thánh nhân, càng gặp phải những việc lớn kinh thiên động địa, việc nguy hiểm thì càng có thể tĩnh tâm như nước, không hề sợ hãi. Từ xưa đến nay, phàm là người làm được việc lớn nhất định phải là người có “tĩnh khí”.
Thế nào được gọi là “tĩnh khí”? Núi Thái Sơn sụp đổ ngay trước mắt mà sắc mặt không biến đổi. Nói đơn giản hơn, “tĩnh khí” chính là có thể “bảo trì sự bình thản”. Trận chiến Phì Thủy (Phì thủy chi chiến) lừng danh trong lịch sử, quân Đông Tấn chưa đến 10 vạn binh sĩ phải chống cự lại 100 vạn binh sĩ dũng mãnh của quân Tiền Tần, tình thế không thể nói là không nguy kịch. Nhưng lúc này, tại sở chỉ huy hậu phương, chủ soái Tạ An vẫn đang chơi cờ vây mà không một chút hoang mang. Đợi đến lúc quân tiền tuyến báo về, ông chỉ nhìn thoáng qua rồi lại tiếp tục chơi cờ. Người bên cạnh thực sự đã không thể nhịn được nữa, liền hỏi ông tình hình chiến sự ra sao, lúc này Tạ An mới nhẹ nhàng nói: “Bọn trẻ chúng đã đánh bại quân địch rồi”.
    “Tĩnh khí” của một người đến từ đâu? Nó không phải là sinh ra đã có, nó cũng không phải từ trên trời rơi xuống, nó đòi hỏi phải không ngừng rèn luyện và tích lũy mà thành.
Có một số người khi gặp việc lớn lại rất hoảng sợ, đó là vì họ không đủ tự tin, cũng chính là không có năng lực và bản lĩnh kiểm soát đại sự. Tục ngữ có câu “thủ trung hữu lương, tâm trung bất hoảng” (trong tay có lương thực rồi thì trong tâm không phải lo lắng). Sách vở chính là món ăn tinh thần, thông qua đọc sách, chúng ta có thể hấp thụ kiến thức của những người đi trước, tăng trưởng năng lực, vượt qua sợ hãi. Vì vậy, càng là người học rộng thì tầm nhìn của họ càng khoáng đạt và đầu óc càng thanh tỉnh. Còn muốn thiện dưỡng chính khí, Gia Cát Lượng đã viết trong “giới tử thư” (thư dạy con): “Làm theo đạo của người quân tử, tu thân thanh tịnh, cần kiệm để dưỡng đức, đạm bạc để nuôi dưỡng chí, tĩnh lặng để nghĩ xa.”
Tĩnh khí cần dựa vào sự hỗ trợ của chính khí, chỉ có chính khí trong thân mới có thể không màng danh lợi, không tham muốn, mới có thể không bị vướng mắc phiền toái và làm được “không quan tâm thiệt hơn”.
Biên dịch: Mai Trà

Những thủ đoạn và phương thức rửa tiền chủ yếu

Mục đích của hoạt động rửa tiền là làm cho đồng tiền “bẩn” trở nên sạch hơn hay nói cách khác là tạo ra một khoảng cách xa nhất giữa tài sản bất hợp pháp và chủ sở hữu những tài sản đó. Hình thức biểu hiện lợi nhuận có được ban đầu thông thường là “tiền”, nhưng sau các giai đoạn chuyển đổi để hợp pháp hoá đã có các hình thức biểu hiện khác như: ngân phiếu, thẻ tín dụng, bất động sản...
Những đồng tiền “bẩn” thường có được từ: (1) Nguồn tiền từ những lao động bất hợp pháp: buôn lậu ma túy, vũ khí, mại dâm và các loại hàng hoá bị cấm mua bán, trao đổi; Tiền của các tổ chức tội phạm có được do làm tiền giả, tống tiền, tổ chức đánh bạc; (2) Nguồn tiền tham nhũng: do tham nhũng, nhận hối lộ, tham ô của các viên chức nhà nước hoặc do lợi dụng chức vụ, địa vị trong bộ máy nhà nước mà có như lợi dụng việc biết trước các thông tin về chủ trương, chính sách, quy hoạch v.v... để trục lợi; (3) Nguồn tiền trốn thuế: Tiền có được do trốn thuế dù thu nhập là hợp pháp.
ảnh 1
Song, vì “bẩn” nên nó không thể trực tiếp đưa vào lưu thông, không thể sử dụng ngay được mà nó phải được rửa sạch thông qua rất nhiều phương thức và thủ đoạn khác nhau. Về cơ bản, chúng thường được rửa qua các hình thức sau:
ảnh 2
Các thủ đoạn rửa tiền rất phong phú đa dạng, song đều có đặc điểm chung là tận dụng những khe hở trong hệ thống pháp luật mỗi nước, nhất là pháp luật hình sự, tài chính, ngân hàng... Đó cũng là lý do vì sao các nước đang phát triển lại được coi là “mảnh đất màu mỡ của các loại tội phạm tài chính.
Các phương thức, thủ đoạn chủ yếu thường được sử dụng là:
- Rửa tiền qua các giao dịch đổi tiền mặt: Đây là phương thức rửa tiền truyền thống và chủ yếu của bọn tội phạm. Chúng thực hiện bằng cách đổi từ đồng tiền nước này sang đồng tiền của nước khác. Ví dụ như chuyển từ đồng USD sang đồng Bảng Anh…
- Rửa tiền thông qua việc mua kim loại quý như vàng, bạc, kim cương... là những tài sản gọn nhẹ, có giá trị cao, có thể mua đi bán lại ở mọi nơi, mọi thời điểm trên thế giới.
Đây là hai phương thức được bọn tội phạm sử dụng nhiều nhất do cách thức đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên các phương thức này lại dễ bị cơ quan điều tra phát hiện.
- Rửa tiền thông qua đầu tư vào gửi tiết kiệm, mua tín phiếu, trái phiếu: tiền sẽ gửi tiết kiệm vào ngân hàng hoặc mua tín phiếu, trái phiếu... làm cho đồng tiền nằm im trong một thời gian phù hợp với quy định với mỗi nước. Sau đó, người gửi tiền có thể rút ra toàn bộ gốc và lãi hoặc rút một phần, biến số tiền đó thành tiền hợp pháp.
- Rửa tiền thông qua hệ thống ngân hàng “ngầm”: ở một số nước mà hệ thống ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, thường tồn tại hệ thống ngân hàng không chính thức gọi là ngân hàng “ngầm”. Hệ thống ngân hàng “ngầm” này hoạt động và luân chuyển tài chính như các ngân hàng chính thức nhưng với chi phí dịch vụ rẻ hơn, bí mật hơn các ngân hàng hợp pháp. Các ngân hàng ngầm có đại diện ở nhiều nước khác nhau để thực hiện dịch vụ chuyển tiền từ nước này sang nước khác hoặc từ thành phố này sang thành phố khác trong cùng một quốc gia. Sự hoạt động của ngân hàng này chủ yếu dựa trên niềm tin giữa ngân hàng và bạn hàng nên thủ tục giấy tờ gọn nhẹ. Bọn tội phạm lợi dụng nguyên tắc giữ bí mật của những ngân hàng này đã đem tiền đến gửi và yêu cầu nhận lại ở một thành phố khác. Những địa chỉ cần nhận tiền tẩy rửa thông thường là những quốc gia khao khát đầu tư tài chính nhưng ít quan tâm đến nguồn gốc đồng tiền, việc thanh toán qua ngân hàng chưa phải là yêu cầu bắt buộc và phổ biến, hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền chưa nghiêm...
Nhìn thấy những thủ đoạn rửa tiền đã khó nhưng để có những giải pháp phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn còn khó hơn rất nhiều bởi nó đòi hỏi phải có sự phối hợp không chỉ trong phạm vi quốc gia mà phải trên phạm vi quốc tế./.

Lý thuyết Gann

Được William D. Gann (1878-1955) phát triển một số phương pháp đặc biệt phân tích biểu đồ giá. Ông chú ý đặc biệt đến các góc độ hình học phản ánh quan hệ qua lại giữa thời gian và giá. Gann tin rằng có một số hình dạng và góc có yếu tố đặc biệt có thể dùng để dự đoán biến động của giá.Gann cho rằng có một tỷ lệ lý tưởng giữa thời gian và giá nếu giá tăng hoặc giảm tạo thành một góc 45 độ so với trục thời gian. Góc này được mệnh danh là “1x1” và tương đương với sự gia tăng mỗi đơn vị giá ứng với mỗi khoảng đơn vị thời gian.

Picture

1.  Gann line
Đường Gann là đường tạo góc 45 độ với trục ngang, còn gọi là đường 1x1 tương đương một sự thay đổi giá trong một đơn vị thời gian.Theo lý thuyết Gann, đường thẳng có góc nghiên 45 độ đại diện cho khuynh hướng dài hạn (tăng hoặc giảm). Khi giá trên đường hướng lên thì thị trường đang ở trạng thái tăng, nếu giá dưới đường xuống, tức thị trường giá giảm. Sự cắt ngang đường Gann thường là một dấu hiệu đảo chiều.


Chart: VNINDEX ngày 10/11/2016
2.  Gan Fan:
Mô hình quạt Gann:Các đường nan quạt được hình thành theo các góc khác nhau từ điểm đáy hoặc đỉnh của đồ thị. Theo Gann đường xu hướng 1x1 là quan trọng nhất. Nếu đường cong giá nằm trên đường này chứng tỏ thị trường đi lên, ngược lại thị trường giảm xút nếu giá bên dưới đường này. Gann cho rằng tia 1x1 là đường hỗ trợ quan trọng với thị trường đang lên, và việc cắt qua đường này là một tín hiệu đổi chiều quan trọng.
 Gann cũng nhấn mạnh đến 8 góc cơ bản bên cạnh góc 45 độ - 1x1.
x8 – 82.5 độ
1x1 – 45 độ
2x1 – 26.25 độ
1x4 – 75 độ
3x1 – 18.75 độ
1x3 – 71.25 độ
4x1 – 15 độ
1x2 – 63.75 độ
8x1 – 7.5 độ
Lưu ý tỷ lệ giá và thời gian gia tăng tương ứng với góc của đường dốc, trục X & Y phải có cùng độ chia. Gann cũng lưu ý rằng các đường nan quạt ứng với các góc cơ bản có thể đóng vai trò là đường hỗ trợ hoặc kháng cự phụ thuộc vào khuynh hướng giá.Ví dụ, đường 1x1 thường đóng vai trò hỗ trợ với xu hướng tăng, nếu giá giảm dưới mức này nghĩa là xu hướng đã thay đổi và theo Gann giá sẽ thể giảm tiếp xuống đường nan bên dưới là 2x1.Có thể hiểu là khi giá vượt qua một đường nan quạt, nó sẽ có khuynh hướng tiếp cận đường nan quạt kế tiếp. 
3.  Gann Grid:
Mạng Gann tiêu biểu cho khuynh hướng được tạo ra bởi các góc 45 độ (các đường Gann)
Picture
4.  Phương pháp giao dịch của GANN
Phương pháp giao dịch của Gann dựa trên niềm tin cá nhân vào một trật tự tự nhiên tồn tại đối với mọi vật trong vũ trụ. Gann xuất thân từ một gia đình có đức tin mạnh mẽ. Do đó Gann thường sử dụng các phân đoạn của Kinh Thánh làm nền tảng không chỉ cho cuộc sống mà cho cả phương pháp giao dịch của ông. Một phân đoạn Kinh Thánh mà Gann thường trích dẫn là từ Ecclesiates Chương 1, Câu 9-10:Điều gì đã từng xảy ra thì sẽ tiếp tục xảy ra; Điều gì đã được thực hiện thì sẽ lại được thực hiện. Không có gì là mới dưới ánh sáng mặt trời. Thậm chí kể cả điều mà chúng ta nói rằng “Hãy xem, cái này mới đấy” thì cũng đã từng tồn tại ở những thế hệ trước thời của chúng ta.
Gann xác định rõ ràng có tồn tại trật tự tự nhiên của vũ trụ, và ngày nay trong thị trường hàng hoá và thị trường chứng khoán chúng ta có cùng quan điểm với ông. Giá cả biến động không phải một cách ngẫu nhiên mà theo cách chúng ta có thể dự đoán được. Những biến động về giá có thể dự đoán được dựa vào việc tính toán tác động của các điểm dự báo tìm thấy trong tự nhiên….và đâu là căn nguyên của các điểm dự báo này?…vũ trụ…vạn vật…tất cả các hành tinh xung quanh chúng ta.
Các điểm dự báo này không chỉ khiến giá biến động mà còn khiến giá biến động theo hướng có thể dự báo được. Chúng ta có thể dự báo các mục tiêu tương lai của giá và thời gian bằng cách giảm các điểm tính toán dự báo về các phương trình và quan hệ toán học.
Các phương trình toán học của Gann không phức tạp. Kết quả của các phương trình toán học này là các đường hỗ trợ và kháng cự mà giá luôn đi theo.Theo Gann, thời gian là yếu tố quan trọng nhất trong giao dịch. Thời gian là yếu tố xác động độ dài xu hướng giá của một hàng hoá. Khi Thời gian ghi nhận xu hướng giá có lẽ cần có phản ứng thì giá có thể sẽ ổn định thêm 1 thời gian ngắn, hoặc có thể biến động trong phạm vi hẹp nhưng cuối cùng giá sẽ phản ứng bằng cách đảo chiều. 
Thời gian là yếu tố xác định KHI NÀO giá cần có phản ứng.
Một vài phản ứng về giá được xác định đã xảy ra vào các thời điểm xác định. Kiểu phản ứng thực tế của giá có thể dự đoán được, và xác định trước được bằng cách sử dụng các nguyên tắc thời gian của Gann.Các đoạn thời gian của Gann không chỉ được tính theo ngày hay tuần, mà được tính theo tháng, thậm chí theo năm. Năm giao dịch của Gann trước tiên được chia làm một nửa tương đương với 6 tháng hay 26 tuần. Năm giao dịch sau đó được chia tiếp cho tám và sau đó là 16. Và rồi, sau khi bạn nghĩ là bạn đã hiểu tất cả về cách chia này thì bạn chợt nhận ra năm của Gann còn được chia cho 3 nữa.Có những khoảng thời gian quan trọng trong năm giao dịch của Gann.
 Ví dụ, do 1 tuần có 7 ngày và 7 nhân 7 bằng 49, Gann phát hiện ra rằng 49 là con số có ý nghĩa. Đỉnh hoặc đáy quan trọng có thể xảy ra vào khoảng giữa ngày thứ 49 và ngày thứ 52, dù ngày mà xu hướng thay đổi tức thì có thể xảy ra vào khoảng giữa ngày thứ 42 và ngày thứ 45 bởi vì 45 ngày là 1/8 của 1 năm.Các khoảng thời gian quan trọng khác đối với Gann mà tại các thời điểm đó có thể xảy ra phản ứng về giá là:-Các ngày từng xảy ra các đỉnh hoặc đáy chính-7 tháng sau đỉnh hoặc đáy chính của một phản ứng giá nhỏ-10 đến 14 ngày là độ dài của một phản ứng giá ở một thị trường bình thường. Nếu vượt quá độ dài thời gian này thì phản ứng về giá tiếp theo có thể xảy ra sau 28 đến 30 ngày.
Nếu bạn còn chưa bị rối thì xin hiểu rằng năm của Gann có thể không đơn thuần là năm theo lịch, mà còn là năm ‘tài chính’, tính từ các Đỉnh hoặc Đáy Chính Các nguyên tắc thời gian của Gann xem xét rất nhiều khoảng thời gian bao gồm các mùa, thời gian theo Kinh Thánh và các sự kiện thiên văn học. Chúng ta hãy cùng nghiên cứu 1 ví dụ nhỏ. Đây là ví dụ về các tương quan thiên văn trên biểu đồ Gann. Một trong những điều mà Gann tin, xuất phát từ ý tưởng về ‘Trật tự Tự nhiên” của ông, là tác động của các chuyển động của hành tinh vào những thời điểm xảy ra các sự kiện trái đất, chẳng hạn như quan sát mặt trăng biết được có thuỷ triều. “Tầm nhìn Vũ trụ” này của Gann không giống với chiêm tinh học thông thường, trong những tác động đối với hành tinh, giống như các đơn vị giá là độc nhất đối với mỗi thị trường.
Đây là một phát hiện mới từ lý thuyết Gann, Gann tạo ra một dãy số ứng dụng cho giao dịch nhiều loại hàng hóa, chúng ta phát hiện một chiến lược giao dịch không cần phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản dựa trên các cản của Gann (ứng dụng từ dãy số Gann).
Các mức cản khá mạnh của Gann như: xx0.5, xx6.9, ví dụ như: Nếu giá đang ở mức 1108 nếu chạm 1110.5 tức là cản Gann đã bị phá nên khả năng Gold up lên cản 1116.9 (nếu chạm cản 1116.9 thì up lên 1120.5 –> 1126.9 –>,… trong trường hợp up trend, và ngược lại trong trường hợp down trend.
Chiến lược áp dụng như sau: Nếu có 1110.5 thì buy ở 1111 và TP = 1116.5, SL = 1109, nếu có 1120.5 thì buy ở 1121 TP = 1126.5, SL = 1119,… chiến lược down trend thực hiện ngược lại là dùng lệnh sell. 
Tốt nhất nên sử dụng lệnh Buy Stop khả năng khớp lệnh cao hơn.Thời điểm vào lệnh sell là phút thứ 27 – 30, và 57 – 59 của một giờ, thời điểm vào lệnh buy là phút thứ 8 – 12, và 38 – 42 của một giờ.
Lưu ý: - Xem lại biên độ ngày dự kiến liên quan tới tin (12$ – 15$ – 18$ – 20$ – 23$ – 27$,…) để phối hợp lệnh tốt hơn,- Các mức cản xác định từ phần mềm meta-trader, nên khả năng lệch với các phần mềm khác, nên xem xét trừ hao cho hợp lý.

Phương pháp của Gann dựa trên quan điểm giá và thời gian luôn luôn song hành cùng nhau. 
Nếu trong một Up Trend thì giá và đơn vị đo giá và thời gian sẽ luôn song song nhau và có các tỷ lệ tương ứng là 1xX, trong đó tùy vào sức mạnh của Up Trend mà X có thể là 1 … 10. Qua đó, có thể vẽ được một hay nhiều đường thẳng để dự đoán sức mạnh của Up Trend này. Thí dụ, nếu bạn định nghĩa đơn vị của giá và thời gian của SHC trong Up Trend hiện nay là 1×1 thì bạn có thể vẽ được một Gann Line với góc là 45 độ. Tương tự như vậy, nếu bạn định nghĩa lớn hơn (2×1 chẳng hạn) thì góc đó sẽ tăng lên. Mặc định MS định nghĩa đơn vị của Gann là 1×1 nên Gann Line luôn có một góc là 45 độ trong MS.
Gann Line:
Trong một thí dụ sử dụng Gann Line để đo sức mạnh của Up Trend hiện tại của SHC với định nghĩa một Up Trend tiêu chuẩn là 1×1, ta có thể thấy như sau:

Trong ví dụ này, có thể thấy rõ ràng diễn biến cũng như sức mạnh của Up Trend hiện tại của SHC. Trong giai đoạn từ 3-7 đến 24-8, SHC đã xuất hiện Up Trend rất rõ nhưng sức up chưa cao. Từ 24-8 đến 5-9, sức mạnh của Up Trend của SHC đã được nâng thêm ngang bằng và thậm chí còn vượt qua tiêu chuẩn mà chúng ta định nghĩa. Tuy nhiên, trong một thị trường nhiều biến động như ở VN thì định nghĩa về mối quan hệ giữa giá và thời gian theo tỷ lệ 1×1 luôn luôn đúng, có nghĩa là Up Trend của SHC khó có thể vượt quá cao khỏi đường Trend Line này trong một thời gian giài, cũng có nghĩa là sức mạnh của Up Trend này sắp giảm trong thời gian tới.
Gann Fan: Ngoài Gann Line, chúng ta còn có một công cụ nữa được sử dụng để xác định ngưỡng hỗ trợ và kháng cự nữa dựa vào lý thuyết của Gann. Trong MS, đó là công cụ Gann Fan. Về cơ bản, Gann Fan dựa vào lý thuyết của Gann để vẽ nên các đường thẳng xuất phát từ một điểm với các tỷ lệ 1×1, 2×1, 3×1, … , 10×1. Trong đó đường được lấy làm tiêu chuẩn là đường phân giác của các góc tạo bởi các đường này, tức là đường 5×1.
Cách sử dụng Gann Fan như sau: Người ta lấy điểm gốc của đường Gann Fan là điểm có giá ở mức thấp sao cho đường 5×1 đi qua điểm có giá cao nhất. Nửa trên đường 5×1 là các tỷ lệ ở mức cao (6×1 đến 10×1) ít khi được dùng đến, nửa dưới của đường 5×1 sẽ chỉ cho chúng ta biết các ngưỡng hỗ trợ và kháng cự trong Trend hiện tại.
Trong VD của SHC, chúng ta có thể xác định được các ngưỡng hỗ trợ và kháng cự trong Trend hiện tại của cp này:

Có thể thấy rất rõ ràng mức hỗ trợ của SHC mà Gann Fan chỉ ra nằm trong khoảng 46 – 52. Các ngưỡng kháng cự còn lại lần lượt là 37 – 46, >52. Việc xác định các ngưỡng hỗ trợ và kháng cự bằng Gann Fan và việc xác định sức mạnh của Up Trend bằng Gann Line có thể hỗ trợ qua lại lẫn nhau.

Nhật bản thay đổi chính sách tiền tệ, cho đường cong lãi suất hướng lên.

Nằm trong nỗ lực chấm dứt giảm phát và phục hồi nền kinh tế, NHTW Nhật Bản đã quyết định chuyển hướng chính sách tiền tệ quen thuộc.

Hôm qua, NHTW Nhật Bản đã khiến thị trường bất ngờ với công cụ chống giảm phát mới. Thống đốc Haruhiko Kuroda tuyên bố đặt mục tiêu lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm ở mức 0%, đồng thời chuyển kế hoạch sang tập trung kiểm soát đường cong lãi suất.
BoJ cho biết sẽ mua trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm để đường cong lãi suất trái phiếu dao động ở mức 0%. Lãi suất tiền gửi được duy trì ở mức 0,1%
Trước đây BOJ đã làm gì?
Giống như nhiều NHTW khác, BOJ đã mua trái phiếu nhằm giảm thiểu chi phí đi vay trên thị trường. Hành động này khuyến khích các công ty và hộ gia đình vay tiền để tiêu dùng, đầu tư, từ đó nâng mặt bằng giá cả.
Do đó, trước phiên họp phần đông thị trường cho rằng BoJ sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ. Cụ thể, chính sách lãi suất âm sẽ được mở rộng nhằm thúc đẩy nhu cầu nội địa. Tuy nhiên, mức giảm sẽ không mạnh vì lãi suất âm làm thu hẹp lợi nhuận của các ngân hàng, công ty bảo hiểm và quỹ lương hưu
Tại sao BOJ không tiếp tục làm như vậy?
Chương trình mua vào trái phiếu của BOJ đã đẩy chi phí đi vay dài hạn xuống gần bằng chi phí đi vay trong ngắn hạn. Khi đó, đường cong lãi suất gần như nằm ngang và NHTW cho rằng điều này có ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế. Lãi suất cho vay dài hạn cực thấp làm giảm lợi ích của các ngân hàng thương mại vì mức chênh lệch lãi suất quá thấp. Đây cũng là vấn đề của các nhà đầu tư dài hạn như quỹ lương hưu do lợi nhuận thu được từ trái phiếu Chính phủ giảm mạnh.
BOJ mong muốn điều gì?
BOJ mong muốn lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm sẽ ở mức 0%. Khi đó, lãi suất nợ ngắn hạn sẽ ở mức âm trong khi các ngân hàng thương mại vẫn được hưởng lợi ích từ chênh lệch giữa các khoản vay nợ trong ngắn hạn và dài hạn. Bằng cách này, các ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm và quỹ lương hưu – nhóm chống lại lãi suất âm – sẽ không bị thiệt hại như trước.
BOJ sẽ làm như thế nào?
Từ trước đến nay, BOJ thường đặt mục tiêu kỳ hạn trung bình cho các chương trình mua vào trái phiếu là 7-12 năm. Điều đó có nghĩa là, phía này sẽ mua vào nợ dài hạn, ngay cả khi điều đó làm đường cong lãi suất nằm ngang. Tuy nhiên, trong cuộc họp ngày hôm qua, phía này đã tuyên bố chuyển tập trung từ lãi suất âm sang đường cong lãi suất. Tức là, BOJ sẽ mua vào trái phiếu theo độ dốc của đường cong lãi suất và giữ cho lợi suất dài hạn luôn cao hơn lợi suất ngắn hạn.
Nếu lợi suất trái phiếu dài hạn di chuyển gần tới mức ngắn hạn, BOJ có thể đơn thuần chỉ là cắt giảm lượng mua vào và đẩy lợi suất dài hạn tăng. BOJ thường có một mức mua vào cố định là 80.000 tỷ yên trái phiếu chính phủ trong 1 năm. Chính sách này cũng đã được thay đổi trong ngày hôm qua, chuyển từ mục tiêu cố định sang mục tiêu linh hoạt. Hiện nay, lợi suất trái phiếu 10 năm đang ở mức -0,023%.
Chiến lược mới của BOJ có hiệu quả không?
Sau tuyên bố của BOJ, cổ phiếu ngân hàng tại Nhật Bản kết phiên tăng gần 7%, nhưng ảnh hưởng trong dài hạn thì vẫn chưa rõ ràng. Quy mô can thiệp của NHTW NHật Bản vào thị trường trái phiếu lớn hơn Fed hoặc bất kỳ NHTW nào trên thế giới. Do đó, ảnh hưởng trong tương lai vẫn là một câu hỏi nghi vấn. Chris Scicluna – giám đốc nghiên cứu kinh tế tại Daiwa Capital Markets Europe nhận định: “BOJ đang ngày càng lún sâu vào quản lý vi mô. Nhưng cái gì cũng có giá của nó. Tham vọng này đòi hỏi một tầm hiểu biết toàn diện mà không phải NHTW nào cũng có”.
Theo Trí Thức trẻ

Thế nào là holdings?

Từ xu hướng thành lập tập đoàn, giờ đây nhiều công ty chuyển sang thành lập công ty holding (holdings). Sự thay đổi này có tác dụng như thế nào?

Thế nào là holdings?
Hôm đầu tuần, TCTCP Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam (PVI) đã công bố chuyển đổi thành CTCP PVI, với tên gọi tiếng Anh là PVI Holdings. PVI Holdings đã thành lập TCT Bảo hiểm PVI theo hình thức Công ty TNHH MTV và công ty này được thừa kế toàn bộ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của TCTCP Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam cũ.
Ở đây có thể hiểu đơn giản PVI đã đẩy toàn bộ hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của mình sang công ty con.
Holdings có giống với quỹ đầu tư hay không? Khá nhiều holdings ban đầu xuất phát từ một công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh, sau đó vì quy mô phát triển, mới lập ra các công ty con và phân chia trách nhiệm, khác với quỹ đầu tư ban đầu là huy động vốn thành lập quỹ rồi tiến hành giải ngân.
Trước khi được Warren Buffett mua lại vào năm 1962, Berkshire Hathaway là một công ty dệt èo uột. Hay như PVI trước đây cũng kinh doanh bảo hiểm giờ mới giao lại cho công ty con. Trong một chừng mực nào đó, holdings gắn với những công ty có thiên hướng về đầu tư, còn tập đoàn gắn với những đơn vị sản xuất.
Bình mới, rượu có mới?
Một trong những ưu điểm của holdings là quyền tự chủ của các công ty con. Tuy nhiên, việc xây dựng các hệ tiêu chuẩn về quản trị, tài chính, kinh doanh để holdings có thể kiểm soát chặt chẽ các công ty con lại là thách thức không nhỏ.
Bên cạnh đó, việc chuyển đổi sang mô hình holdings cũng gặp không ít khó khăn về luật lệ, kế toán tổ chức… Một trong những doanh nghiệp đang hoạt động theo mô hình holdings được đánh giá thành công là Hoàng Anh Gia Lai (HAG).
Mô hình hoạt động của HAG hiện nay đã được lãnh đạo công ty chuẩn bị ngay từ những năm trước, từ việc cổ phần hóa các công ty con, sau đó bán bớt ra bên ngoài. Hiện giờ, nếu NĐT “kết” HAG ở mảng trồng cây cao su có thể mua công ty con chuyên về mảng này, hoặc nếu muốn tham gia mảng bất động sản sẽ chọn HAGL-Land…
Holdings được dùng cho những công ty có chức năng nắm giữ cổ phần của các công ty khác (chữ hold trong tiếng Anh là nắm giữ), chứ không trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Holdings khác với tập đoàn ở chỗ chỉ đóng vai trò là cổ đông lớn tại các công ty con hoặc các công ty nắm sở hữu chứ không chỉ định kinh doanh, hay điều phối hoạt động như tập đoàn hoặc tổng công ty. Công ty con trực thuộc holdings sẽ được tự chủ hơn trực thuộc tập đoàn hoặc tổng công ty. Sự gắn kết giữa các thành viên về mặt sở hữu cổ phần cũng chặt chẽ hơn so với tập đoàn. Đôi khi nói công ty A’ nào đó trực thuộc tập đoàn A, nhưng công ty mẹ là A lại không sở hữu mà chỉ cho A’ thuê lại thương hiệu của mình. Một trong những holdings nổi tiếng nhất thế giới là Berkshire Hathaway của NĐT lừng danh Warren Buffett, sở hữu rất nhiều khoản đầu tư trên thế giới.
Đầu tư vào công ty con tức là tập trung vào một mục tiêu, tham gia vào holdings là để tìm cách cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận.
Nhưng cũng có trường hợp những tổ chức vừa đầu tư vào công ty con vừa đầu tư cả holdings (tức công ty mẹ), người bên ngoài nhìn vào, rất khó biết động thái này nhằm mục đích gì. Một trường hợp cũng hay xảy ra, đôi khi giá trị của holdings lại thấp hơn tổng giá trị của các công ty con.
Thí dụ: X Holdings có giá trị vốn hóa 500 tỷ đồng, nhưng lại sở hữu X1, X2, X3 có giá trị vốn hóa lần lượt là 100 tỷ đồng, 200 tỷ đồng và 300 tỷ đồng, tổng cộng là 600 tỷ đồng. Nói cách khác, X đang được chiết khấu đến 20%. Vấn đề nằm ở chỗ tổng hợp và định giá cho các holdings là việc không đơn giản.
Trở lại với trường hợp của PVI, nhiều NĐT sẽ đặt câu hỏi: Liệu PVI đã chuẩn bị gì để có thể tạo được những bước chuyển khi sang mô hình mới?
Lâu nay, bệnh quan liêu trong quản lý vẫn là vấn đề nhức nhối đối với những CTCP có gốc gác từ các doanh nghiệp nhà nước. PVI đã thành lập một công ty con chuyên lo kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nhưng lại theo mô hình công ty TNHH MTV, chứ không phải CTCP. Tức là phần vốn của công ty con này vẫn chỉ nằm trong tay PVI, hay nói cách khác PVI vẫn giữ quyền tuyệt đối trong hoạt động kinh doanh của mình thay vì chia sẻ ra bên ngoài cho các thành phần khác cùng tham gia. Như vậy, sẽ cần có thời gian để kiểm chứng sự thay đổi về chất có diễn ra hay không.
Tương tự là Tập đoàn Bảo Việt (BVH) với tên gọi tiếng Anh là Bao Viet Holdings. Cho dù năm qua BVH gây ấn tượng mạnh với NĐT nhờ giá CP nổi sóng, nhưng theo một chuyên gia tài chính chia sẻ: Việc xác định rõ ràng, cụ thể các mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ của BVH không đơn giản. Trong nhiều trường hợp, điều này còn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của BVH.
Có bao nhiêu holdings?
Luật sư Trần Minh Hải, Giám đốc Công ty Luật Basico, cho biết: “Theo Luật CK, có 3 dạng công ty được UBCKNN quản lý, bao gồm CTCK, công ty quản lý quỹ và công ty đầu tư CK. Trong đó, công ty đầu tư CK là dạng nắm giữ vốn và đầu tư một cách chuyên nghiệp, mang hơi hướng của holdings nhất. UBCKNN quản lý rất chặt dạng công ty này, thí dụ CBCNV phải có chứng chỉ hành nghề, hoặc tỷ lệ nắm giữ, đầu tư bao nhiêu...
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp về bản chất cũng tương tự như vậy nhưng không thành lập theo Luật CK mà lại theo Luật Doanh nghiệp nên UBCKNN không quản lý được.
Rất nhiều đại gia đã thành lập những công ty chỉ với chức năng quản lý cổ phần của họ tại những công ty khác, hoặc quản lý vốn của công ty chính mà họ sử dụng để đầu tư.
Trong quá trình hoạt động, những công ty này sẽ cho ra những nghị quyết chỉ đạo, thâu tóm vốn ở các công ty khác, điều này có thể làm nảy sinh những xung đột.
Ở đây có một khoảng trống pháp lý trong việc quản lý các công ty hoạt động theo mô hình holdings, hay nói đúng hơn là chưa có cơ chế nào ép họ phải tuân thủ theo một chuẩn mực rõ ràng”.
Nói như một giám đốc đầu tư của một quỹ lớn, không loại trừ trường hợp, trong thời gian tới thành lập holdings sẽ trở thành xu hướng của các doanh nghiệp sau xu hướng “tập đoàn hóa” những năm gần đây. Sự thay đổi chỉ diễn ra về mặt hình thức và đem “khè” những NĐT bên ngoài.
Đứng trên góc độ NĐT, điều này rõ ràng là vô nghĩa, vì điều quan trọng nhất cần phải hướng đến là sự phát triển có thực chất của doanh nghiệp.
Theo Thái Ca - Hữu Phúc
Sài gòn đầu tư tài chính


Dịch vụ Thiết kế website và Dịch vụ seo CIP giúp cho thương hiệu của bạn tiếp cận thị trường online.