Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả mỏ dầu Bạch Hổ

Tên “Bạch Hổ" đã đi vào các văn liệu dầu khí thế giới và được ghi nhận như mỏ dầu lớn nhất của Việt Nam, nhưng đồng thời cũng là một trong những mỏ đặc biệt trên thế giới có trữ lượng cực lớn (trên 500 triệu tấn trữ lượng dầu khí tại chổ), được Vietsovpetro tổ chức khai thác với cường độ và sản lượng cao (trên 12 triệu tấn/năm ở sản lượng đỉnh) từ tầng chứa là đá móng granitoid Mesozoi trong các bể trầm tích Đệ tam.

Quan điểm cơ bản trong khoa học dầu khí nhưng đồng thời cũng là cơ sở lý luận để tổ chức tìm kiếm các mỏ dầu khí trên thế giới đều xem “Dầu mỏ và khí thiên nhiên” có nguồn gốc hữu cơ, hình thành từ sự phân hủy các xác sinh vật và thực vật hạ đẳng dưới tác động của áp suất và nhiệt độ trong quá trình bị chôn vùi sâu dưới lòng đất ở các bể trầm tích. Vì thế, không khỏi ngạc nhiên đến khó tin về việc phát hiện dầu khí tồn tại trong đá móng, là các dung nham, đá núi lửa hình thành ở nhiệt độ vài ngàn độ, nơi mà không vật chất hữu cơ nào có thể tồn tại.
Các đá granit này nằm lót đáy dưới các bể trầm tích tuổi Đệ Tam trên thềm lục địa Việt Nam mà chúng ta có thể quan sát thấy khi đi dọc bãi biển từ Vũng Tàu đến Phan Rang, Nha Trang, Bình Định, Đà Nẵng. Những hang hốc và nứt nẻ trong đá granit là các không gian chứa dầu ở dưới sâu trong lòng đất 3000 – 4000 mét. Ở chiều sâu đó, các đá bị nén ép chặt sít, và các khe nứt chỉ rộng trung bình vài milimét đến một centimét.  
Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả mỏ dầu Bạch Hổ và các mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ - hang hốc trước kỷ Đệ Tam  –  thành tựu khoa học  và c
Hình 1 Đá granit nứt nẻ quan sát ở bãi biển Cà Ná – Ninh Thuận (Ảnh P.V.Trụ)
Vietsovpetro đã phát hiện và bắt đầu khai thác dầu từ móng mỏ Bạch hổ kể từ ngày 6/9/1988 đến nay gần 27 năm. Từ kinh nghiệm của Vietsovpetro, nhiều mỏ dầu trong tầng chứa móng nứt nẻ lần lượt được phát hiện và đưa vào khai thác.
Từ đó đến nay, Việt Nam đã khai thác riêng từ  tầng chứa móng nứt nẻ gần 250 triệu tấn dầu (khoảng 75% tổng sản lượng dầu), thu gom trên 40 tỷ mét khối khí, gần 12 triệu tấn LPG và condensate, với tổng doanh thu dầu khí khai thác từ tầng móng gần 80 tỷ USD. Đó là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành dầu khí Việt Nam, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, lương thực và sự phát triển ổn định chung của nền kinh tế Việt Nam.
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, đi đầu là Vietsovpetro không những đã xây dựng phương pháp luận về hệ thống dầu khí trong đá móng nứt nẻ mà còn đóng góp về hệ phương pháp nghiên cứu mô hình mỏ, các giải pháp công nghệ khoan trong đá móng nứt nẻ, khai thác có duy trì áp suất vỉa, tối ưu hóa hệ số thu hồi dầu với nhịp độ cao, xây dựng các phần mềm tính toán thông số vỉa, tổ chức xây dựng mỏ v.v...
Các công ty dầu khí và dịch vụ nước ngoài cũng theo đó mà hoàn thiện hệ công nghệ trong nghiên cứu, khoan và khai thác dầu trong đá móng góp phần gia tăng sản lượng dầu Việt nam.
Hiện nay tại bể Cửu Long, ngoài những mỏ dầu khí đã được phát hiện trong móng và đưa vào khai thác như Bạch hổ, Rồng của Vietsovpetro, Nam Rồng-Đồi Mồi của Liên doanh Việt-Nga-Nhật; các mỏ Sư tử Đen, Sư tử Vàng, Sư tử Nâu của Cửu long JOC; Rạng đông của JVPC;  Ruby của Petronas;  Cá Ngừ Vàng của Hoàng Long - Hoàn Vũ JOC  còn có những phát hiện khác như: Jade, Diamond, Pearl, Hải Sư Đen, Thăng Long, Hổ Xám South cũng đang chuẩn bị đưa vào khai thác thời gian gần.
Tầng chứa đá móng granitoid nứt nẻ trở thành đối tượng quan tâm khi tiến hành tìm kiếm thăm dò trong các bể trầm tích khác. Ngoài bể Cửu long, dầu khí tiếp tục được phát hiện trong đá móng granitoid ở bể Nam Côn Sơn như ở mỏ Đại Hùng, Gấu Chúa v.v..
Những thành tựu khoa học - công nghệ của ngành dầu khí Việt Nam có giá trị thực tiễn không chỉ trong bể Cửu Long mà có thể ứng dụng cho các bể chứa dầu khác trên thềm lục địa Việt Nam và trong khu vực.
Những thành tựu này là đóng góp khoa học-công nghệ cho khoa học dầu khí Việt Nam và thế giới.
Lịch sử phát hiện và tổ chức khai thác dầu ở mỏ Bạch Hổ
Biểu hiện dầu trong đá móng mỏ Bạch Hổ được ghi nhận ở giếng BH-1 nhưng kết quả thử vỉa không cho dòng. Giếng khoan BH-6 khoan sâu vào móng 23 mét đến chiều sâu 3533m và ngày 05/5/1987 khi thử vỉa cùng với tầng Oligocen cho lưu lượng 477 t/ng. Mặc dù còn có nghi vấn nhưng giếng BH-6 được xem là giếng phát hiện đầu tiên dòng dầu có lưu lượng công nghiệp trong tầng chứa là đá móng ở thềm lục địa Việt nam. Dầu trong đá móng nứt nẻ được khẳng định có lưu lượng công nghiệp khi quay lại thử vỉa trong móng ở giếng BH-1 và được đưa vào khai thác ngày 6/9/1988.
Đây là thân dầu lớn trong đá chứa granitoid nứt nẻ-hang hốc với trữ lượng dầu tại chỗ trên 500 triệu tấn, diện tích mỏ gần 60 km2 và chiều cao thân dầu được xác định 1300 mét. Sản lượng đỉnh trên 12 triệu t/năm, lưu lựợng giếng cao nhất ban đầu có thể đạt 2000 tấn/ngày.
Năm 1974 công ty Mobil (Mỹ) khoan giếng tìm kiếm BH-1X trên cấu tạo Bạch Hổ và chỉ phát hiện dầu trong tầng Miocen tuổi Đệ tam. Trước năm 1975 quan điểm tìm kiếm của các công ty dầu nước ngoài chỉ tập trung trong tầng Miocen, tầng chứa Oligocen nằm sâu hơn và lớp vỏ phong hóa trên móng được xem hình thành trong điều kiện lục địa nên không phải là mục tiêu để khoan tìm kiếm dầu khí. Hơn nữa, đá móng nằm lót dưới bề trầm tích Đệ tam là các đá xâm nhập magma granitoid lại càng  không phải là đối tượng được quan tâm vì theo học thuyết hữu cơ, dầu không thể sinh và chứa trong các đá magma có nguồn gốc sâu trong vỏ trái đất. Vì thế, không chỉ ở Việt Nam mà theo sử liệu thống kê cho thấy đến thập niên cuối của thế kỷ 20 những phát hiện dầu trong đá móng đều được xem không khả năng sản xuất công nghiệp và không được các nhà tìm kiếm dầu quan tâm. (Hydrocarbon production from fractured basement reservoir - Tony Batchelor; Jon Gutmanis & col.  Geosciences limited; Dec. 2005)  
Dầu khí cũng được khai thác trong đá móng ở nhiều nơi trên thế giới. Có trên 320 mỏ được phát hiện và một số được đưa vào khai thác.  Đá móng chứa dầu khí thường là các đá trầm tích hoặc trầm tích-biến chất, các đá trầm tích–phun trào, các đá biến chất cổ và chỉ một số ít có thành phần là đá magma như: mỏ Lago Mercedes - Chilê; Xinglongtai - Trung quốc; mỏ Hurghada và Zeit Bay - Ai cập; Oymasha-Kazakhstan; mỏ PY-1 vịnh Bengal Ấn Độ; Nafoora - Augila ở Libya; các mỏ Hall-Gurney và Gorham ở trung Kansas Mỹ; mỏ Lapaz - Venezuela. Ở tất cả các mỏ trên, các giếng khoan vào móng là đá granitoid không sâu, thường 200-300 mét liên quan đến vỏ phong hóa, lưu lượng thường nhỏ hơn 100 t/ng trừ vài giếng riêng lẽ có thể đạt đến 1000t/ng, và được khai thác ở chế độ suy giảm tự nhiên kết hợp với các tầng chứa là các đá trầm tích nằm trên. Trữ lượng được đánh giá không lớn do tính bất đồng nhất lớn về đặc tính thấm-chứa, không thể xác định được sự phân bố độ rỗng và chưa có hệ phương pháp nghiên cứu về mô hình mỏ, trừ mỏ Lapaz – Venezuela được xác định có trữ lượng tại chổ khoảng 100 triệu tấn.
Như thế, có thể xem mỏ Bạch Hổ với thân dầu trong móng granitoid nứt nẻ-hang hốc có trữ lượng và sản lượng lớn, cường độ khai thác cao và được tổ chức khai thác có hệ thống và hiệu quả là một điển hình đầu tiên được ghi nhận trong văn liệu dầu khí thế giới.
Sau 27 năm khai thác dầu trong đá móng ở mỏ Bạch Hổ, dựa trên diển biến động năng của vỉa có thể chia quy trình khai thác thành 3 giai đoạn với hệ phương pháp kỹ thuật-công nghệ có tính đặc thù riêng biệt:
  • giai đoạn khai thác không có duy trì áp suất vỉa
  • giai đoạn khai thác có duy trì áp suất vỉa bằng nước bơm ép.
  • giai đoạn khai thác suy giảm cuối đời mỏ.
I. Giai đoạn khai thác không có duy trì áp suất vỉa
Từ tháng 9/1988 đến tháng 6/1993 thân dầu trong đá móng được khai thác ở chế độ giảm áp tự nhiên, nói đơn giản là tận dụng sự dãn nở tự nhiên của dầu vỉa và của khí hòa tan trong dầu khi giảm áp suất trong quá trình khai thác.  Từ nhận thức ban đầu thân dầu là lớp vỏ phong hóa, quá trình khoan phát triển và nghiên cứu mô hình mỏ ở giai đoạn này đã giúp Vietsovpetro nhận hiểu đây là một mỏ lớn liên quan đến thân dầu trong đá móng granit nứt nẻ-hang hốc có độ bất đồng nhất về tính thấm-chứa cao, thân dầu lớn và sâu, mà các phương pháp truyền thống bình thường không thể áp dụng được, đòi hỏi phải nghiên cứu và xây dựng hệ phưng pháp riêng cho đặc tính thân dầu này, mà trọng tâm là mô hình mỏ với hệ các nứt nẻ liên quan đến đứt gãy được xem vừa là tầng chứa vừa là kênh dẫn và cơ chế dòng chảy trong môi trường rỗng nứt nẻ hỡ.  (Hình 2; 3)
Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả mỏ dầu Bạch Hổ và các mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ - hang hốc trước kỷ Đệ Tam  –  thành tựu khoa học  và c
Hình 2   Mẫu đá granit hang hốc nứt nẻ lấy ở độ sâu khoan 3869 mét – Bể Cửu Long. (Nguồn PVEP)
Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả mỏ dầu Bạch Hổ và các mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ - hang hốc trước kỷ Đệ Tam  –  thành tựu khoa học  và c
     Hình 3.  Mẫu đá Granit nứt nẻ được nghiên cứu dưới kính hiển vi. (Nguồn PVEP)
Những công trình nghiên cứu khoa học và ứng dụng kỹ thuật - công nghệ trong giai đoạn này đã cho nhiều kết quả quan trọng, như việc ứng dụng phương pháp địa chấn 3D và các chương trình xử lý đặc biệt để xây dựng mô hình thân dầu  đến chiều sâu 4250m trong đá móng, áp dụng những phương pháp địa vật lý giếng khoan hiện đại để xác định mức độ nứt nẻ của đá đã được khoan qua cũng như hướng các đứt gãy, xác lập các vùng phân bố có mật độ nứt nẻ cao vì đó là nơi sẽ cho lưu lượng dầu lớn, và đã xác lập thân dầu không có áp lực nước đáy, đó là tiền đề quan trọng để tổ chức bơm ép nước duy trì áp suất vỉa. Kết quả mô phỏng địa hình bề mật nóc của thân dầu mỏ Bạch Hổ được thể hiện ở hình 4.
Hệ phương pháp truyền thống dựa trên tài liệu địa vât lý giếng khoan về sóng âm (acoustic), neutron, gamma-mật độ, điện trở có nhiều bất cập, sai số lớn khi tính trữ lượng dầu nên ông Hoàng Văn Quý và tập thể tác giả của Viện nghiên cứu và Thiết kế của Liên doanh dầu khí Vietsovpetro đã xây dựng phần mềm riêng làm cơ sở để tính các thông số theo mô hình vật lý-thạch học không đồng nhất mang tên Basroc và được hoàn chỉnh dần với các phiên bản 1.0; 2.0; 3.0  và nay là 5.0.
Để tăng lưu lượng của giếng, các nhà công nghệ đã áp dụng kỹ thuật khoan xiên hoặc khoan với quỹ đạo gần như nằm ngang để cắt qua số lượng tối đa các hệ đứt gãy và nứt nẻ, và để giảm sự cố và tăng tốc độ khoan đặc biệt khi khoan các giếng có chiều sâu lớn và thân giếng dài, họ đã áp dụng nhiều giải pháp từ nghiên cứu chọn cấu trúc thân giếng hợp lý, loại chòong khoan, và các thông số dung dịch khoan tối ưu.
Các chuyên gia của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam còn áp dụng đầu tiên ở Việt nam có hiệu quả phương pháp “Nứt vở vỉa thủy lực và Axít-hóa” để giảm độ nhiểm bẩn thành giếng, tăng mật độ và độ liên thông nứt nẻ vùng cận đáy giếng, nhờ thế mà lưu lượng giếng gia tăng đáng kể, có khi đến 2-3 lần.
Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả mỏ dầu Bạch Hổ và các mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ - hang hốc trước kỷ Đệ Tam  –  thành tựu khoa học  và c
    Hình 4.     Mô hình cấu trúc 3D  móng mỏ Bạch Hổ (Nguồn VSP)
Việc khai thác dầu trong tầng móng ở chế độ suy giảm tự nhiên đã làm giảm mạnh áp suất vỉa ở độ sâu quy chiếu @3650m từ 417 at còn 333,5 at vào tháng 6/1993, trung bình giảm 17,3 at/năm. Đến hết năm 1993, sau 5 năm khai thác thân dầu trong đá móng, sản lượng dầu khai thác được từ mỏ Bạch Hổ đạt gần 20 triệu tấn.
II. Giai đoạn khai thác có duy trì áp suất vỉa
Sự giảm mạnh áp suất vỉa trong khoảng thời gian ngắn ở thân dầu móng nứt nẻ đòi hỏi phải nhanh chóng áp dụng giải pháp duy trì năng lượng vỉa mới có thể đạt sản lượng đỉnh, tăng hệ số thu hồi dầu, phải nghiên cứu lại mô hình địa chất và mô hình khai thác mỏ Bạch Hổ.
Để đạt mục tiêu tối ưu hóa vị trí các giếng phát triển và khai thác cần phải làm rõ cấu trúc móng,  nhận dạng các đới đứt gãy, các vùng nứt nẻ, và khả năng nối kết giữa chúng, đặc biệt sự liên thông giữa các không gian rỗng chứa dầu với tính chất hai độ rỗng macro và micro. Nhưng các đứt gãy trong móng luôn có độ dốc lớn (thường trên 700), vì thế độ phân dị tốc độ sóng địa chấn kém, bức tranh sóng địa chấn phức tạp, rất khó xây dựng  mô hình địa chất của thân dầu dựa trên mô hình vận tốc sóng địa chấn, đó là những thách thức chính đòi hỏi phải có những thử nghiệm và giải pháp phù hợp.
Nhiều phương pháp xử lý địa chấn đặc biệt được áp dụng để xây dựng chính xác hơn mô hình mỏ, nghiên cứu sự bất đồng nhất về thuộc tính của sóng địa chấn và ứng dụng kỷ thuật mạng nơron để xác lập sự phân bố các vùng có tính thầm-chứa tốt, nơi kỳ vọng có sản lượng dầu cao..
Để xác định chính xác hơn các thông số vật lý vỉa, đặc biệt độ rỗng của đá chứa với tính bất đồng nhất cao, các nhà địa vật lý dầu ngoài phương pháp vi điện trở, đã xử dụng phương pháp đo siêu âm cao tầng  để định dạng và xác định đặc tính của nứt nẻ trên cơ sở phân tích sóng âm học Stoneley để hạn chế tác động của yếu tố thạch học, song song  nâng cấp và cải tiến phần mềm Basroc  thành các phiên bản 2.0  (1997), phiên bản 3.0 (2002) và 5.0 (2009) để tính giá trị độ rỗng của hệ nứt nẻ và tỷ lệ tham gia của 2 dạng độ rỗng macro- và micro- trong thể tích chứa và lưu chuyển dầu
Trong quá trình nghiên cứu các nhà địa chất đã phát hiện độ rỗng của đá chứa có ba dạng:  (1) - độ rỗng giữa các tinh thể của đá có kích thước nhỏ hơn 0,01mm, còn được gọi độ rỗng của “nền đá” hay “matrix đá”. Không gian rỗng này có thể chứa chất lưu dầu nhưng không tham gia vào quá trình khai thác, có nghĩa chất lưu dầu dù tồn tại cũng không thể di chuyển được dưới bất cứ tác động nào; (2) – độ rỗng macro, đó là những khe nứt và hốc nhỏ, trong điều kiện vỉa có kích thước phổ biến trên một mili mét, có khi lên đến centi mét, chúng liên thông và kết nối nhau thành hệ thống, đó là dạng không gian rỗng quan trọng tham gia vào quá trình khai thác ở giai đoạn đầu và giai đoạn hai. Chúng vừa là thể tích chứa dầu và đồng thời cũng tạo mạng kênh dẫn nhỏ li ti để dầu di chuyển tự do vào các giếng khai thác. Cơ chế dòng chảy trong không gian rỗng này mang tên “dạng piston”, có nghĩa nếu ta dùng nước bơm ép để đẩy dầu theo chế độ hợp lý thì front dầu luôn đi trước front của nước đẩy. Nhờ đặc tính này chúng ta đã áp dụng phương pháp bơm ép nước để tăng khả năng quét và đẩy dầu từ các kênh chứa nhỏ li ti để thu gom về các giếng khai thác, mà trong khoa học dầu khí gọi “tăng hệ số thu hồi dầu”. Việc bơm ép nước trong giai đoạn này còn mục đích là bù đắp không gian trống của dầu được khai thác bằng nước mà nôm na gọi “duy trì áp suất vỉa".
Chế độ bơm ép nước được gọi hợp lý vì nếu bơm it và yếu thì khả năng quét ít và đẩy dầu yếu, hay nói đơn giản là “không sạch”, lượng dầu thu gom sẽ ít, nhưng nếu bơm nhiều nước với áp lực quá mạnh sẽ xảy ra hiện tượng là front nước sẽ xé front dầu ra từng mảng nhỏ, vươt lên trước và ép dầu vào thành các kênh dẫn, lúc đó ở các giếng khai thác chúng ta chỉ thu được nước còn lượng dầu khai thác sẽ ít đi, chất lưu dầu sẽ bị giử lại thành từng mảng trong không gian rỗng và mất khả năng lưu chuyển. Trong khoa học dầu khí thường gọi “giếng bị ngập nước và chết”; (3) – độ rỗng micro, đó những nứt nẻ và hốc có kích thước rất nhỏ từ 0,01mm đến 0,1mm.
Thể tích chứa chất lưu dầu ở đây cũng khá lớn, dù không thật chính xác nhưng các nhà địa chất ước tính cũng đến 30% tổng thể tích chứa dầu của đá chứa. Làm sao để khai thác được tối đa lượng dầu chứa trong không gian rỗng này một cách hợp lý. Dầu lưu giử ở đây do sức hút mao dẫn, vì thế không có lực bơm ép nào có thể vượt được áp suất mao dẫn để đẩy dầu ra khỏi các kênh nhỏ micro này. Cơ chế đẩy dầu khác hẳn “dạng piston”. Vấn đề “hóc búa" này hiện làm nhiều nhà công nghệ dầu khí đau đầu, và chỉ có thể giải quyết theo hướng là sử dụng năng lượng tích hợp do dãn nở của chất lưu và đá chứa. Vấn đề sẽ được đề cập tiếp ở phần dưới khi xem xét chế độ khai thác dầu ở giai đoạn áp suất vỉa suy giảm cuối đời mỏ.
Trong quy trình khai thác dầu, điều  kiêng kỵ nhất là để áp suất vỉa giảm thấp hơn áp suất bão hòa hay còn gọi là áp suất điểm sôi. Ở ngưỡng áp suất này, khí được hòa tan trong dầu sẽ bị tách khỏi dầu, vì thế dầu ở trạng thái lỏng trong lòng đất sẽ mất dần tính lưu chuyển, độ nhớt tăng, vì thế lưu lượng giếng sẽ giảm kéo theo giảm sản lượng toàn mỏ.
Để bổ sung năng lượng cho vỉa, Vietsovpetro đưa giải pháp kỹ thuật bơm ép nước xuống phần đáy của thân dầu vừa để duy trì áp suất vỉa trên áp suất bão hòa vừa tạo nước đáy nhân tạo để quét và đẩy dầu từ dưới lên. Phương pháp này ban đầu không được ủng hộ, lo ngại không  kiểm soát được sự di chuyển của nước ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thu hồi dầu. Ngay các chuyên gia của World Bank cũng phản đối và cho rằng các chuyên gia Vietsovpetro không thể quản lý được quy trình này.
Vietsovpetro thiết kế phương án bơm ép nước và tháng 6/1993 tiến hành bơm ép thử nghiệm ở giếng 421 khối trung tâm mỏ Bạch Hổ nơi có suy giảm mạnh áp suất vỉa. Sau 2 năm, nước bắt đầu xuất hiện ở giếng khai thác 409, sau đó là một loạt giếng khác quanh đấy. Hình thành tầng nước đáy cục bộ. Hệ thống giếng khai thác và bơm ép nước dần được hoàn thiện. Hệ thống khai thác ban đầu được xây dụng theo mô hình 3 đới: đới bơm ép nước, đới khai thác chính, đới mủ khí tiềm năng ở phần đỉnh.
Do hiệu ứng tích cực của bơm ép nước và sự đối lưu tốt của dòng dầu từ dưới lên nên trong  giai đoạn khai thác này áp suất vỉa được duy trì ổn định, lớn hơn áp suất bão hòa và không thể sớm hình thành mủ khí. Vietsovpetro xây dựng lại mô hình khai thác với 2 đới: - đới khai thác chính và đới bơm ép, giữa chúng là vùng chuyển tiếp, mở rộng chiều cao đới khai thác (Hình 5). Nước bơm ép được xử lý chu đáo để có thể đẩy dầu từ những vi khe nứt thậm chí có kích thước dưới 1 micron, với quy trình hạn chế gây tổn hại đến môi trường chứa về phương diện hóa-lý.
Vietsovpetro đề ra phương châm đúc kết từ kinh nghiệm của mình: “Bơm đúng chỗ, bơm đúng lúc, bơm đúng áp suất, bơm đúng lưu lượng, và bơm theo chu kỳ”.
Phương pháp luận và công nghệ khai thác thân dầu trong đá móng granitoid không có nước đáy của Vietsovpetro đã được cấp bằng sáng chế và bảng quyền công nghệ năm 2005.
Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả mỏ dầu Bạch Hổ và các mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ - hang hốc trước kỷ Đệ Tam  –  thành tựu khoa học  và c
         Hình 5  Mô hình khai thác “2 đới”  theo Sơ đồ công nghệ khai thác năm 1997(Nguồn từ Vietsovpetro)
Từ sản lượng gần 6 tr.tấn/ năm vào 1993, Vietsovpetro nhanh chóng đạt sản lượng đỉnh trên 12,1 triệu tấn /năm vào 2001 và duy trì đến 2004 với sự gia tăng hằng năm trên 1 triệu tấn trước khi đạt đỉnh nói lên hiệu quả tích cực của phương án bơm ép nước duy trì áp suất vỉa, tạo front nước đáy, tăng hệ số thu hồi dầu từ móng nứt nẻ ước tính đạt 0,37 - 0,42. Đây là hệ số thu hồi tối ưu có thể đạt được đối với thân dầu trong đá móng granit nứt nẻ có tính bất đồng nhất cao về giá trị độ rỗng và độ thầm. Để tăng độ linh động của chất lưu, kết quả sẽ tăng sản lượng dầu, Vietsovpetro còn nghiên cứu ứng dụng các hợp chất polymer, xử lý việc lắng cặn và nhiểm bẩn vùng cận đáy giếng và nước bơm ép v.v
Từ năm 1994 đến hết 2004 Vietsovpetro đã khai thác từ thân dầu trong móng nứt nẻ trên 110 triệu tấn dầu. Động thái khai thác dầu ở mỏ Bạch Hổ được thể hiện ở hình 6.
Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả mỏ dầu Bạch Hổ và các mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ - hang hốc trước kỷ Đệ Tam  –  thành tựu khoa học  và c
           Hình 6. Động thái khai thác dầu ở mỏ Bạch Hổ giai đoạn 1988 – 2008 (Nguồn từ Vietsovpetro).
Trong giai đoạn này một thành tựu quan trọng trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ có tác động đảm bảo  khai thác an toàn và ổn định cần nhắc đến là công nghệ và phương pháp vận chuyển dầu nhiều parafin theo mạng đường ống nằm dưới đáy biển. Dầu Bạch Hổ là loại dầu nhiều parafin với hàm lượng lên đến 22 -24%, dễ kết tủa và lắng đọng parafin quanh thành ống ở nhiệt độ trung bình của nước biển mùa hè là 24C còn mùa đông  là 22C dù ống có bọc bảo ôn. Qua một thời gian sự kết tủa parafin sẽ làm hẹp đường kính của ống, gây nghẻn và hạn chế lưu lượng, tốc độ chảy của dầu kéo theo sự sụt giảm sản lượng chung của mỏ, đôi khi còn gây sự cố vở ống dưới áp lực bơm làm tăng chi phí sửa chữa, gây ô nhiểm môi trường...
Trong nhiều năm các kỹ sư khai thác dầu của Vietsovpetro đã xây dựng hệ phương pháp và triển khai thành công công nghệ vận chuyển 2 pha dầu và nước, đảm bảo khai thác dầu thô ổn định và an toàn qua hệ thống đường ống chằng chịt nối liền giữa các dàn khai thác và giữa các mỏ để dẫn dầu về dàn xử lý trung tâm, sau dó về tàu chứa dầu, có đoạn dài gần 40 km. Từ đó, hoàn thiện dần hệ thống công nghệ phát triển và khai thác dầu ở mỏ Bạch Hổ hợp lý, khoa học có tận dụng thu gom và xử lý khí đồng hành để đưa vào bờ tăng hiệu quả kinh tế khai thác mỏ Bach Hổ.  
Hệ thống công nghệ khai thác dầu và khí đồng hành mỏ Bạch Hổ được thể hiện ở hình 7.
Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả mỏ dầu Bạch Hổ và các mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ - hang hốc trước kỷ Đệ Tam  –  thành tựu khoa học  và c
               Hình 7.  Hệ thống các công trình công nghệ khai thác mỏ Bạch Hổ
 III. Giai đoạn khai thác suy giảm cuối đời mỏ.
Quy trình khai thác một mỏ dầu khí có thể chia thành 3 công đoạn: (1) thời gian lên đỉnh; (2) thời gian duy trì sản lượng đỉnh; và (3) thời gian suy giảm sản lượng  (Hình 8). Trong thời kỳ suy giảm này, nếu có những biện pháp tăng cường năng lượng vỉa, cải thiện các thuộc tính của dầu linh động hơn, khả năng đẩy dầu tốt hơn thì sản lượng  khai thác dầu có thể  gia tăng cao hơn (Hình 8-3a)  so với trạng thái không có biện pháp tăng cường (Hình 8-3b)
Sau khi đạt đỉnh, từ năm 2005 sản lượng thân dầu móng mỏ Bạch hổ bắt đầu suy giảm 8-10% năm. Số giếng và hệ số ngập nước tăng nhanh, front nước đáy dâng cao không đồng đều tạo những lưởi nước. Cột dầu giảm, xuất hiện mủ khí cục bộ làm giảm sản lượng giếng. Áp suất vỉa tiệm cận áp suất bão hòa. Đó là những thách thức lớn đối với Vietsovpetro làm thế nào để giảm thiểu tốc độ suy giảm sản lượng, nhưng vẫn giử được nhịp độ khai thác. Kinh nghiệm khai thác dầu khí ngoài biển cho thấy thời gian khai thác kinh tế một mỏ kéo dài 20 – 22 năm. Nếu tính từ ngày 26/6/1986  khi tấn dầu đầu tiên được khai thác thì thời gian khai thác mỏ Bach Hổ đã được 29 năm, kỳ vọng còn có thể kéo dài thêm

Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả mỏ dầu Bạch Hổ và các mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ - hang hốc trước kỷ Đệ Tam  –  thành tựu khoa học  và c
Hình 8  Thời gian hoạt động của một đời mỏ
-  (1) thời gian lên sản lượng đỉnh;
-  (2) thời gian duy trì sản lượng đỉnh
-  (3) thời gian suy giảm sản lượng -  (3a) không có giải pháp tăng cường; (3b) có giải pháp tăng cường
Hiện Vietsovpetro đang tập trung nghiên cứu khai thác trữ lượng dầu còn lại từ thể tích rỗng ở các khe nứt hở macro ở phần nóc của thân dầu, trữ lượng từ thể tích nứt nẻ kín micro và đặc biệt từ những diện tích sót, “những khối tù” còn dầu nhưng bị bao kín không liên thông với những kênh hiện đang khai thác, hoặc quỹ đạo các giếng chưa chạm đến hoặc cắt ngang qua. Đó là tiềm năng mà Vietsovpetro đang hướng để duy trì sản lượng dầu
Những giải pháp công nghệ hiện đang được Vietsovpetro nghiên cứu thực hiện là:
- Điều chỉnh quy trình bơm ép nước hợp lý cho từng cụm khai thác theo chế độ: bơm đúng áp suất, đúng lưu lượng, và theo chu kỳ để hạn chế lưởi nước đột biến.
- Nghiên cứu các giải pháp tận thu dầu sót trong không gian rỗng nứt nẻ micro có cơ chế đẩy dầu kiểu mao dẫn và ở những khối sót chưa tác động bởi hiệu ứng bơm ép nước.
- Tiếp tục áp dụng các hoạt chất bề mặt để giảm thiểu độ bão hòa dầu sót  và các giải pháp công nghệ khác nhằm tăng hệ số thu hồi dầu.
-  Chính xác hóa mô hình phân bố độ rỗng trong không gian 3D, từ đó điều chỉnh mô hình khai thác hợp lý.
Những mỏ dầu khí trong móng nứt nẻ được tiếp tục phát hiện
Tiếp nối sau Vietsovpetro, áp dụng những giải pháp công nghệ và kinh nghiệm của Vietsovpetro khai thác dầu trong đá móng, có cải tiến và hoàn thiện cho phù hợp với đặc điểm mô hình địa chất, đặc tính chất lưu vỉa của từng mỏ, các công ty dầu như Petronas (PCV), JVPC, Cửu long JOC, Hoàng Long – Hoàn Vũ JOC, VRJ đã phát hiện và tổ chức khai thác có hiệu quả các mỏ Rạng đông, Sư tử Đen. Sư Tử Vàng, Sư Tử Nâu, Cá Ngừ Vàng, Ruby, Nam Rồng – Đồi Mồi, Hải Sư Đen...
Kết quả khai thác thân dầu trong đá móng ở mỏ Bạch Hổ, Rồng của Vietsovpetro và những  mỏ khác cho thấy sự đa dạng của mô hình địa chất mỏ, của thân dầu với sự có mặt của nước rìa, sự khác biệt về độ sâu phân bố và thành phần chất lưu (dầu, khí). Thân dầu trong đá móng nứt nẻ gặp ở độ sâu từ gần 2000 mét đến trên 4500 mét, các thông số vật lý của dầu như tỷ trọng, độ nhớt, độ khí hòa tan biến động. Sự phân bố độ rỗng-thấm có khả năng cho dòng công nghiệp phức tạp làm tăng độ rủi ro cao khi bố trí các giếng tìm kiếm và phát triển. Nhiều mỏ được phát hiện lại sau nhiều giếng khoan khô hoặc các công ty đã bỏ như Hải Sư Đen, Hổ Xám v.v..
Nhưng việc áp dụng có chọn lọc các kinh nghiệm của Vietsovpetro từ mỏ Bạch Hổ và tăng hàm lượng nghiên cứu và đầu tư công nghệ mới đã làm phong phú thêm kinh nghiệm khai thác dầu của Tập đoàn Dầu khí Việt nam và tính hiệu quả cao trong khai thác thân dầu trong đá móng granitoid nứt nẻ-hang hốc.
Tầng móng nứt nẻ-hang hốc granitoid trước tuổi Đệ Tam ở bể Cửu Long và thềm lục địa Việt Nam trở thành đối tượng quan tâm đặc biệt trong chiến lược tìm kiếm và khai thác dầu khí của các công ty dầu hoạt động ở Việt Nam và các tổ chức dầu  khí thế giới. 
Phát hiện và khai thác có hiệu quả dầu trong tầng chứa đá móng granitoid nứt nẻ-hang hốc là - thành tựu khoa học và công nghệ của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, đi tiên phong là Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro - là một đóng góp lớn về lý luận và thực tiễn cho khoa học dầu khí thế giới, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
Công trình khoa học-công nghệ này đã được Nhà nước ghi nhận và trao tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ” cho tập thể tác giả năm 2012.
TS. Ngô Thường San

Chu trình khai thác dầu khí

Khai thác khí ở mỏ khí Tiền Hải, Thái Bình. Khai thác dầu ở mỏ dầu Bạch Hổ, Biển Đông

1. Giới thiệu
Khai thác dầu khí là môn khoa học ứng dụng, thuộc lĩnh vực thượng nguồn trong ngành công nghiệp dầu khí, có nhiệm vụ thu hồi dầu khímột cách an toàn với hiệu quả kinh tế tối đa từ các mỏ dầu khí.
Khai thác dầu khí có 02 phần: (i) hệ thống thiết bị khai thác; và (ii) công nghệ áp dụng trên hệ thống thiết bị đó. Hiện nay, ngành Dầu khí Việt Nam đang khai thác dầu và khí từ các mỏ ở trên đất liền như mỏ khí Tiền Hải C từ năm 1981 (sau này có thêm mỏ Đông Quan D và D14-STL) và ở ngoài biển-thềm lục địa phía Nam hình thành các cụm khai thác như mỏ dầu Bạch Hổ - Rồng; Rạng Đông;Sư Tử Đen-Sư Tử Vàng; mỏ khí Lan Tây-Lan Đỏ và nhiều mỏ khác với nhiều cụm hệ thống thiết bị khác nhau. Một hệ thống khai thác dầu khí cơ bản(cả trên đất liền và ngoài biển) bao gồm: vỉa chứa, giếng khoan, đường ống thu gom, bình tách, máy bơm/máy nén, hệ thống lưu chứa, và đường ống xuất bán sản phẩm dầu thô và khí.
Giếng khai thác tiếp nhận dầu hoặc khí từ vỉa chứa sản phẩm thông qua phần mở vỉa, đồng thời là đường ống dẫn dầukhí cùng với nước (gọi chung là chất lưu) lên bề mặt đất cũng như cung cấp chức năng điều chỉnh sản lượng khai thác chất lưu của giếng. Đường ống thu gom có nhiệm vụ tập hợp dòng sản phẩm từ các giếng khai thác và dẫn tới bình tách để tách riêng nước, khí và dầu phục vụ cho xử lý đạt yêu cầu sản phẩm dầu khí thương mại. Máy bơm, máy nén được sử dụng để vận chuyển dầu và khí tới điểm tiếp nhận thông qua hệ thống đường ống xuất bán. Tính chất lưu biến của dầu và khí thay đổi theo nhiệt độ, áp suất trong suốt quá trình chảy từ vỉa vào giếng cũng như qua hàng loạt các thiết bị thu gom, xử lý.
Chu trình công nghệ khai thác dầu khí  trên đất liền và ngoài biển
Sơ đồ tổng thể hệ thống khai thác dầu khí
2. Vỉa và mỏ dầu khí
Một vỉa dầu khí thường là mộtlớp đất đá dưới lòng đất có độ rỗng và độ thấm, chứa dầu khí và được giới hạn bởi các lớp đá không thấmhoặc các đới nước. Như vậy, mỗi vỉa dầu khí được đặc trưng bởi một hệ thống áp suất riêng. Tập hợp của một hay nhiều vỉa dầu khí trong cùng một cấu trúc địa chất sẽ trở thành một mỏ dầu khí.
Trên cơ sở điều kiện áp suất và nhiệt độ ban đầu (ngay sau khi được phát hiện) trong biểu đồ biến đổi pha, các tích tụ hydrocacbon được phân chia thành các loại vỉa dầu, khí ngưng tụ hoặc khí khô. Một vỉa dầu có áp suất lớn hơn áp suất điểm bọt được gọi là dưới bão hòa bởi vì nó có thể tiếp nhận thêm khí hòa tan trong điều kiện nhiệt độ cụ thể. Vỉa dầu có có áp suất tại áp suất điểm bọtđược gọi là dầu đã bão hòa do không thể tiếp nhận thêm khí hòa tan vào trong dầu ở điều kiện nhiệt độ thích hợp. Dòng chảy một pha (lỏng) chiếm ưu thế trong vỉa dầu dưới bão hòa. Trong khi đó, dòng chảy 2 pha (dầu và khí) thường tồn tại trong các vỉa dầu đã bão hòa.
Tùy thuộc vào tỷ số khí-dầu (GOR) hiện đang khai thác mà các giếng được khoan trong cùng một vỉa có thể thuộc nhóm các giếng khai thác dầu, khí, khí ngưng tụ. Những giếng đang khai thác với GOR cao trên 100.000scf/bbl (bộ khối/thùng) được coi là giếng khai thác khí; những giếng có GOR nhỏ hơn 5000scf/bbl thuộc nhóm giếng khai thác dầu; Nếu có GOR trong khoảng từ 5000 – 100.000 scf/bbl sẽ được coi là giếng khai thác khí ngưng tụ.
Trên cơ sở các điều kiện về năng lượng nội tại và ngoại biên hỗ trợ cho quá trình khai thác, các vỉa dầu có thể được phân chia thành các loại: (i) vỉa có hỗ trợ năng lượng nước biên; (ii) vỉa có hỗ trợ năng lượng mũ khí; (iii) vỉa có hỗ trợ năng lượng khí hòa tan; và (iv) kết hợp của nhiều dạng năng lượng.
Chu trình công nghệ khai thác dầu khí  trên đất liền và ngoài biển
Vỉa chứa dầu khí và các dạng hỗ trợ năng lượng
Trong trường hợp vỉa rộngvới tổng diện tích rất lớn so với phần diện tích chỉ chứa dầu, sẽ có một lượng lớn nước tồn tại trong vỉa ở xung quanh và tiếp xúc trực tiếp với vùng chứa dầu.Thể tích nước kề áp lớn thường cung cấp nguồn năng lượng đáng kể cho quá trình đẩy dầu về phía giếng khai thác. Trong quá trình khai thác, áp suất tại vùng dầu sẽ giảm xuống làm cho nước ở vùng kề áp dãn nở và di chuyển vào, góp phần làm chậm quá trình giảm áp. Khi áp suất vỉa được duy trì luôn cao hơn áp suất điểm bọt, dòng chảy trong vỉachỉ có một pha lỏng nên làm tăng tối đa chỉ số khai thác của giếng.Cùng một điều kiện sản lượng như nhau, vỉa dầu có hỗ trợ nước kề áp đủ lớn sẽ có thời gian khai thác dài hơn so với các dạng hỗ trợ năng lượng khác.Vùng nước biên ở các cánh của thân dầu sẽ có hiệu quả hỗ trợ năng lượng cũng như cải thiện hệ số quét dầu tốt hơn vùng nước nằm dưới đáy thân dầu do hiện tượng nón nước dễ dàng xảy ra đối với các giếng khai thác gần vùng nước đáy. Khi có hiện tượng nước xâm nhập vào giếng, không những sản lượng khai thác dầu sẽ giảm, mà còn làm tăng chi phí xử lý nước trước khi thải ra môi trường.
Đối với vỉa có mũ khí đủ lớn, có thể là nguyên sinh hoặc thứ sinh, khi khai thác dầu làm giảm áp suất vỉa, cả mũ khí sẽ dãn nở, khí chiếm phần thể tích lỗ rỗng để duy trì áp suất đồng thời đẩy quét dầu xuống phía dưới tới giếng khai thác. Áp suất vỉa giảm còn làm khí hòa tan trong dầu thoát ra, di chuyển lên vùng cao hơn của vỉa và góp phần làm tăng thể tích mũ khí. Mặc dù năng lượng từ giãn nở của mũ khí góp phần quan trọng trong khai thác thân dầu, nhưng một khi ranh giới khí-dầu di chuyển quá nhanh tới khoảng bắn vỉa của các giếng khai thác, khí sẽ chiếm phần lớn tỷ lệ dòng chảy vào giếng làm giảm áp suất vỉa một cách nhanh chóng.
Các vỉa chứa dầu được bao quanh bởi các biên chắn không cho dòng thường được gọi là vỉa dầu thể tích, không có hỗ trợ năng lượng từ bên ngoài mà chỉ có năng lượng nội tại trong vỉa hỗ trợ cho khai thác dầu. So sánh với các dạng năng lượng bên ngoài như mũ khí hoặc nước biên thì vỉa dầu loại dãn nở của dầu và khí hòa tan sẽ có cơ chế khai thác yếu nhất. Tại những vùng khai thác mà áp suất thấp hơn áp suất điểm bọt thì khí sẽ thoát ra khỏi dầu và tạo thành dòng 2 pha chảy vào giếng. Để cải thiện hệ số thu hồi dầu đối với các vỉa loại này, các biện pháp duy trì áp suất vỉa cần được nghiên cứu áp dụng sớm.
3. Giếng khoan phát triển khai thác
Các giếng được khoan sâu vào lòng đất để tới vị trí các vỉa sản phẩm với các công đoạn khoan có đường kính giảm dần. Sau khi hoàn thành mỗi công đoạn khoan, giếng được chống ống với cấu trúc ống sau được lồng vào trong ống trước tới mặt đất hoặc có thể là ống lửng. Mỗi cột ống chống đều được trám xi măng lên tới mặt đất hoặc ít nhất cũng phải cao hơn mức của lần trám cột ống trước đó.
Ống chống cuối cùng trong giếng được gọi là ống chống khai thác, trong đó cột ống nâng được thả vào bên trong giếng và thường được cố định với ống chống khai thác bằng nút neo. Dòng sản phẩm sẽ từ khoảng bắn vỉa, chảy qua cột ống nâng để lên tới đầu giếng khai thác trên mặt đất.
Để hỗ trợ khả năng khai thác cho giếng khi áp suất vỉa giảm, các van khí nén được lắp đặt dọc theo ống nâng ở những vị trí đã được tính toán.
Các giếng khai thác được khoan thẳng đứng hoặc nghiêng định hướng tới vỉa sản phẩm. Tùy thuộc vào đặc tính vỉa mà khoảng khai thác trong giếng khoan được thiết kế theo kiểu (i) thân trần; (ii)ống đục lỗ,màng lọc, đệm sỏi lọc cát; hoặc (iii)thông thường nhất là chống ống, trám xi măng và bắn đạn xuyên vào vỉa;
Đầu giếng là phần thiết bị bề mặt được lắp đặt ngay bên dưới van chủ đạo, và là nơi cố định đầu của các ống chống và đầu ống nâng. Tùy thuộc vào chương trình chống ống khi khoan giếng, một vài đầu cột ống chống được lắp đặt ngay sau khi trám xi măng. Đầu ống chống được cấu tạo hình côn bên trong để đảm bảo khả năng treo cả cột ống chống đó.
Đầu giếng là phần thiết bị bề mặt được lắp đặt ngay bên dưới van chính, là nơi cố định đầu của các ống chống và đầu ống nâng. Tùy thuộc vào chương trình chống ống khi khoan giếng, một vài đầu cột ống chống được lắp đặt ngay sau khi trám xi măng. Đầu ống chống được cấu tạo hình côn bên trong để giữ nêm treo cả cột ống chống. Đối với cột ống chống khai thác, đầu ống còn được ren và bắt chặt vào nêm nhằm tạo ma sát. Tất cả các đầu ống chống đều được lắp áp kế hiển thị áp suất trong khoảng không vành xuyến giữa các cột ống. Toàn bộ cụm thiết bị đầu giếng đều được đặt lên cột ống chống dẫn hướng, do vậy cột ống này luôn chịu nén và thường được trám xi măng tới bề mặt. Cột ống nâng được thả bên trong cột ống chống khai thác với một được treo ngay trên đầu cột ống chống khai thác, đầu còn lại được cố định bởi packer ở phía đáy giếng.
Cụm thiết bị khai thác được lắp đặt ngay bên trên thiết bị đầu giếng được gọi là cây thông và được sử dụng để kiểm soát dòng chảy sản phẩm của giếng. Cây thông được kết nối với đầu cột ống nâng thông qua một thiết bị nhỏ đặc biệt. Van chính được lắp ngay bên dưới đường ống dẫn sản phẩm. Ngoài ra, cây thông còn được trang bị các van nhánh, van đỉnh để dễ dàng điều chỉnh dòng hoặc đóng giếng khi cần thiết. Một áp kế thường được lắp trên đỉnh của cây thông để báo áp suất bên trong cột ống nâng.Các áp kế khác được lắp đặt cùng với các van nhánh để kiểm soát dòng chảy chất lưu.
Chu trình công nghệ khai thác dầu khí  trên đất liền và ngoài biển
Sơ đồ đầu giếng khoan cùng với cây thông khai thác
Trong tất cả các giếng đang hoạt động, lưu lượng chất lưu được điểu chỉnh bởi các van điều dòng (choke) lắp tại mỗi nhánh khai thác. Van điều dòng tạo đối áp cho toàn bộ thiết bị lòng giếng cũng như điều chỉnhgiảm áp đáy giếng tránh làm hỏng vỉa. Với giếng khai thác khí, van điều dòng còn có tác dụng làm giảm ngưng tụ khíhoặc thành tạo hydrat khí trong ống nâng. Vận hành cụm thiết bị đầu giếng khai thác cần có quy chế đóng và mở cụ thể. Trước khi mở van điều tiết phải tiến hành kiểm tra toàn bộ thiết bị khai thác trên bề mặt, đặc biệt là van an toàn, các đầu nối, thiết bị trao đổi nhiệt, nhằm đảm bảo dòng chất lưu chảy thông suốt qua hệ thống thu gom xử lý.Ngoài ra, các thùng chứa/bể chứa cũng cần phải sẵn sàng và đảm bảo đủ cho lần mở giếng.
4. Bình tách
Dòng chất lưu từ giếng khai thác thường là hỗn hợp rất phức tạp với hàng trăm thành phần hydrocacbon khác nhau. Dòng chảy dầu khí là dòng đa pha (lỏng khí) luôn có lưu lượng lớn, chảy rối, dãn nở mạnh, đôi khi có tham gia của hơi nước, nước và lẫn cả cát. Trong thực tế có 3 loại bình tách được phân loại thành: bình tách đứng; bình tách ngang; và bình tách hình cầu. Trong đó bình tách ngang còn được phân thành 2 loại: bình tách ngang thân đơn và bình tách ngang thân kép. Mỗi loại đều có những ưu nhược điểm và phạm vi sử dụng nhất định tùy thuộc chủ yếu vào đặc tính dòng chất lưu sẽ được tách, khoảng không gian lắp đặt và đặc biệt là giá thành. Các bình tách ngang được lựa chọn nhiều nhất bởi giá thành thấp và phù hợp với nhiều loại dầu như tỷ số khí-dầu cao; có bọt; hoặc hàm lượng nước lớn, do khi tách dầu loại này cần mặt thoáng khí - lỏng rộnghoặc cần có vách ngăn. Ngoài ra bình tách ngang còn dễ dàng lắp đặt, có thể thực hiện xếp chồng để tạo thành hệ thống các cấp tách, cần dùng ít đường ống kết nối với các thiết bị khác, đồng thời chi phí vận hành thấp.
Chu trình công nghệ khai thác dầu khí  trên đất liền và ngoài biển
Sơ đồ nguyên lý bình tách 3 pha nằm ngang
Trong bình tách ngang, chất lưu có thời gian dài hơn khi chuyển động qua các tấm và vách ngăn song song với trục của bình, nơi chất lỏng tạo thành giọt và rơi xuống vùng chất lỏng bên dưới. Tuy nhiên, mực chất lỏng bên dưới luôn phải được điểu chỉnh cho phù hợp, tránh làm giảm hiệu suất tách pha lỏng hoặc làm cho dầu bị cuốn theo dòng chảy của khí.
Bình tách đứng thường được lựa chọn đối với dầu có chỉ số GOR thấp hoặc trung bình, cũng có thể phù hợp đối với dòng chất lưu có dạng nút chất lỏng kích thước lớn do dầu đã tách ra sẽ không bị cuốn theo dòng khí. Bình tách đứng có lợi thế diện tích chiếm chỗ nhỏ, lựa chọn tối ưu đối với các giàn khai thác ngoài khơi. Tuy nhiên, do dòng chảy tự nhiên của pha khí có xu thế bay lên trên nên làm giảm hiệu quả tách hơi và pha lỏng khi đường kính của bình tách không đủ lớn. Ngoài ra, bình tách đứng có giá thành cao, cồng kềnh khi chế tạo đồng bộ và vận chuyển khó khăn.
Bình tách hình cầu có giá thành thấp đồng thời gọn nhẹ. Tuy nhiên do có cấu tạo thu gọn nên các bình kiểu này bị giới hạn khoảng không gian để tách chất lỏng. Ngoài ra, thiết lập và điều chỉnh mực chất lỏng trong bình loại này sẽ gặp nhiều khó khăn.
5. Vận chuyển dầu khí
Saukhi được xử lý tách dầu khí và nước, sản phẩm thương mại sẽ được vận chuyển tới tàng trữ hoặc xuất bán bán. Các loại bơm dạng piston hoặc máy nén khí được sử dụng tương ứng cho dầu và khí để cung cấp năng lượng cơ học cần thiết để đẩy dầu và khí qua đường ống.
Bơm piston có 2 dạng dựa theo cách thức hoạt động: hành trình đơn và hành trình kép. Trong đó bơm hành trình kép thường sử dụng 2 piston, bơm hành trình đơn sử dụng với số lượng piston nhiều hơn nhằm tạo ra dòng dầu tương đối liên tục trong ống vận chuyển.
Máy nén được sử dụng để cung cấp khí với áp lực cao cho vận chuyển bằng đường ống hoặc cho khí nâng. Có 2 dạng máy nén được sử dụng trong vận chuyển khí: máy nén dạng piston và máy nén dạng ly tâm. Máy nén dạng piston có hiệu suất thấp do có quá nhiều chi tiết chuyển động trong quá trình vận hành. Với mỗi tổ hợp xilanh, máy nén piston bao gồm: một piston, xilanh, đầu xi lanh, van nạp, van xả, và các thành phần khác có nhiệm vụ chuyển truyền động quay sang hành trình. Máy nén dạng piston được thiết kế với khoảng hệ số nén nhất định thông qua khoảng chạy piston và thể tích làm việc mỗi xilanh. Thông thường, máy nén piston có thể cung cấp khí với lưu lượng 30.000 bộ khối mỗi phút ở áp suất nén lên tới 10.000 psi. Máy nén ly tâm có hiệu suất cao hơn do chỉ có 2 bộ phận chuyển động trong quá trình làm việc là các cánh và trục quay. Ngoài ra chi phí vận hành thấp, tiêu tốn ít dầu bôi trơn và cũng không cần dùng nước làm mát do tỷ số nén thấp nên ma sát nhỏ. Máy nén ly tâm sử dụng lực ly tâm để nén khí và đẩy vào ống khuếch tán và làm giảm tốc độ, đồng thời chuyển năng lượng động thành áp suất tĩnh. Không giống như máy nén piston, máy nén ly tâm cấp dòng liên tục ở đầu ra với lưu lượng lớn, áp suất thấp nên cần phải bố trí nối tiếp nhau. Khi đó, mỗi máy nén ly tâm sẽ nâng áp suất tới một cấp nhất định, thường chỉ là 100 psi cho mỗi cấp với lưu lượng 100.000 bộ khối/phút.
Đường ống dẫn dầu, khí hoặc các sản phẩm của công nghiệp dầu khí có tầm quan trọng đặc biệt trong khai thác dầu khí từ thu gom cho tới phân phối. So với các phương tiện vận chuyển như tầu biển, xe tải, đường ống có ưu thế đặc biệt do vận chuyển ổn định, liên tục với khối lượng lớn đi quãng đường xa với giá thành thấp. Vận chuyển dầu khí bằng đường ống có tính linh hoạt rất cao và có khả năng vượt qua những phức tạp của địa hình cũng như khắc nhiệt về môi trường xung quanh.Trong hệ thống thiết bị khai thác dầu khí ngoài biển, đường ống nội bộ mỏ có nhiệm vụ kết nối các giàn đầu giếng với giàn hoặc tàu xử lý trung tâm. Đường ống xuất bán sẽ dẫn dầu tới tầu chứa và dẫn khí về bờ và tới hộ tiêu thụ.
Chu trình công nghệ khai thác dầu khí  trên đất liền và ngoài biển
Sơ đồ đường ống trong hệ thống khai thác dầu ngoài khơi

Chu trình công nghệ khai thác dầu khí  trên đất liền và ngoài biển
Giàn cố định khoan và khai thác trên mỏ Bạch Hổ
Các đường ống được thiết kế với kích thước phù hợp với áp suất và lưu lượng của chất lưu vận chuyển. Các dự án khai thác dầu khí thường có những lựa chọn kích cỡ ống cũng như vật liệu khác nhau đáng kể. Để đảm bảo chịu được áp suất, độ dày thành ống được lựa chọn trong khoảng từ 0,95cm cho tới 3,8cm.
6. Hệ thống an toàn và điều khiển
Mục đích của an toàn hệ thống là bảo vệ con người, môi trường và thiết bị khai thác dầu khí. Do vậy nhiệm vụ chính là phải đảm bảo hydrocacbon không bị rò rỉ và chủ động hạn chế những ảnh hưởng nếu xảy ra rò rỉ. Thiết bị an toàn và điều khiển được trang bị khắp hệ thống thiết bị khai thác dầu khí, từ lòng giếng cho đến các đoạn của đường ống vận chuyển.
Van được sử dụng nhiều nhất trong hệ thống với mục đích điều khiển áp suất, mực chất lỏng, nhiệt độ và lưu lượng dòng chảy. Trong công nghiệp dầu khí, van tự động được sử dụng nhiều nhất và thường được kết hợp với các thiết bị cảm biến. Từ các hoạt động thông minh của van, các thiết bị xử lý dầu khí cũng được điều khiển tự động giúp cho quá trình được diễn ra thông suốt và an toàn.
Tài liệu đọc thêm
  1. Introduction to Oil and Gas Production, Fifth edition. Americal Petroleum Institute publication, 1996.
  2. Ken Arnod, Maurice Stewart, 2008. Surface Production Operations _ Design of oil handling system and facilities – Third edition. Elsevier
  3. H. Devold, 2006. Oil and Gas Production Handbook. ABB ATPA Oil and Gas.
  4. Howard B. Bradley, 1992. Petroleum Engineering Handbook, Third printing. SPE
TS. Nguyễn Hải An

Phương pháp chọn cổ phiếu đầu tư giá trị mới

Đầu tiên xin giới thiệu sơ lược về phương pháp này, phải nói là nó rất đơn giản nhưng lại được rất nhiều NĐT giá trị lãng quên hoặc đôi khi hạn chế về dữ liệu. Phương pháp này đang được các quỹ và những NĐT thông minh áp dụng rất hiệu quả. Nhược điểm duy nhất của nó nằm ở thanh khoản đặc thù của cổ phiếu cơ bản rất được ít NĐT quan tâm, tuy nhiên cách khắc phục cũng rất đơn giản.


Nhà đầu tư huyền thoại Warrant Buffet từng nói: “đầu tư vào những công ty có lượng tiền mặt cao là cách an toàn và hiệu quả nhất bất chấp sự biến động của thị trường. Điều này có nghĩa rằng những công ty có lượng tiền mặt ròng (tỷ lệ thanh khoán ngắn hạn cao) sẽ duy trì được tốc độ phát triển ổn định như hiện tại cho đến khi họ phát hiện ra những cơ hội lớn và tiêu dùng lượng tiền mặt đó.

Từ những triết lý đó, qua việc sử dụng các công cụ thống kê Excel đơn giản tôi đã chỉ ra một phương pháp lọc cổ phiếu đơn giản để tất cả các NĐT đều có thể sử dụng (từ sinh viên, người đi làm, hay những người làm nội trợ) chỉ cẩn biết dùng những thứ cơ bản nhất của Excel.
Phương pháp như sauSo sánh giá thị trường <-> giá trị an toàn của cổ phiếu

Giá trị an toàn = ((Tổng tiền và tương đương tiền + Đầu tư Ngắn Hạn (gửi ngân hàng) - (Nợ vay ngân hàng ngắn và dài hạn))/ Tổng số cổ phiếu

 Mua khi giá trị an toàn lớn hơn hoặc bằng với giá trị thị trường của cổ phiếu, mội vài trường hợp nếu giá trị an toàn thấp hơn 10-20% vẫn có thể mua.

Lập luận cho công thức này như sau:

Thứ nhất, một công ty có lượng tiền cao đủ để thanh toán được tất cả khoản nợ vay ngân hàng sẽ giảm được chi phí lãi vay và duy trì được lượng tiền khổng lồ để đảm bảo tăng trưởng với mức hiện tại và dùng lượng tiền lớn này đầu tư vào các cơ hội sinh lời khi có thể (trong thời gian ngắn)
Thứ hai, trường hợp nền kinh tế gặp khó khăn thì những công ty này ít chịu tác động bởi họ đủ tiềm lực để đối phó với những biến động bên ngoài. Cộng với khi kinh tế khó khăn họ có lượng tiền đủ để kiếm những cơ hội tốt với giá rất rẻ tại thời điểm này.
Thứ ba, trong trường hợp lãi suất ngân hàng tăng thì những công ty này càng phát triển mạnh mẽ và có lợi thế cạnh tranh đang kể hơn so với các công ty vay nợ nhiều.

Chú ý của phương pháp này:

Trong kinh tế học không có phương pháp nào là tuyệt đối, cũng chẳng có cách làm nào là bất biến và cứng nhắc. Do đó, trong quá trình sử dụng phương pháp này, NĐT cần kết hợp với những hiểu biết về ngành nghề và hiểu biết khác về doanh nghiệp để áp dụng tốt cho từng trường hợp riêng lẽ.

Sự hiệu quả của phương pháp:

Đầu tiên, thống kê quá khứ từ năm 2010 đến nay, 90%những cổ phiếu nào trong trường hợp giá an toàn cao hơn giá thị trường thì đều cho thấy mức tăng trưởng vượt thị trường trong vòng 3-6 tháng (50-100%)

Thứ hai, tôi xin dẫn chứng một vài trường hợp cụ thể gần đây để mọi người xem tính hiệu quả của phương pháp.

VC3: Giá trị an toàn lớn hơn 20k tại cuối năm 2014; giá thị trường đã tăng từ 18k lên 53k chỉ sau 6 tháng.
(Những cổ phiếu này chỉ là ví dụ, không phải khuyến khích NĐT theo, hãy tự lọc để có những cổ phiếu tốt hơn)

Còn nhiều cổ phiếu khác đủ tiêu chuẩn và đang trong quá trình tăng giá, mọi người chỉ cần sử dụng bảng báo cáo tài chính (file excel) là có thể lọc được, còn nếu không có file excel thì mọi người có thể tính tay từ các báo cáo tài chính tải về của mỗi công ty (không lọc được mà chỉ kiểm tra từng cp quan tâm)

Chúc NĐT giao dịch thành công!

(Liên hệ: skype: viet90_finance - để nhận được file excel BCTC tất cả công ty trên 3 sàn chứng khoán mới nhất/fee 500k)




VC7 - Cổ phiếu đặc biệt theo phương pháp định giá mới

Sau khi sử dụng phương pháp định giá theo phương pháp mới và lọc được một nhóm cổ phiếu để để đầu tư. Lão Trịnh xin giới thiệu từng cổ phiếu trong danh sách những cổ phiếu được lọc để NĐT tham khảo hiệu quả của phương pháp lọc mới này.

Công ty cổ phần xây dựng số 7 – VC7 
Ngành nghề
-          Xây lắp các công trình công nghiêp và dân sự
-          Hoạt động kinh doanh BĐS
-          Các dịch vụ khác
Phân tích hoạt động kinh doanh
Dự án tiêu biểu
-          Dự án Khu nhà ở để bán 136 Hồ Tùng Mậu khởi công từ năm 2010 đã bàn giao nhà và đang trong giai đoạn thu tất toán những hạng mục cuối cùng
-          Dự án 34 Cầu Diễn cũng đã gần hoàn tất thu tiền trong quý 3, chỉ chờ bàn giao nhà, khả năng có thể bàn giao nhà hoàn tất và ghi nhận doanh thu trong năm 2015.
Tổng cả hai dự án này mang lại khoản doanh thu khoảng hơn 210 tỷ đồng đang được treo ở phần doanh thu chưa thực hiện. Công ty sẽ hoàn tất bàn giao quyền lợi cho khách hàng và hoạch doán doanh thu lợi nhuận trong năm 2015 hoặc chậm nhất quý 1 năm 2016.
Doan thu
-          Doanh thu từ 3 nguồn chính là: Kinh doanh BĐS, Xây lắp và bán hàng hóa xấy dựng
-          Doanh thu tài chính chủ yếu là từ tiền gửi, với số tiền khổng lồ, mỗi năm công ty thu được khoảng 10 tỷ từ lãi tiền gửi.
-          Dự kiến doanh thu từ hoạt động kinh doanh chính của công ty 2015 khoảng 330 tỷ, với biên LN từ hoạt động kinh doanh trung bình khoảng 5% thì LN HĐKD của công ty năm 2015 khoảng 16.5 tỷ. LN từ đầu tư tài chính (lãi tiền gửi) khoảng 8-10 tỷ.
Do đó, tổng lợi nhuận năm 2015 của công ty ước đạt khoảng 20-22 tỷ đông sau thuế.
Sức mạnh tài chính
Nguồn tiền lớn
-          VC7 có một đặc điểm tương tự VC3 cách đây 6 tháng đó chính là nguồn tiền mặt rất nhiều, không chỉ vậy mà trong 6 tháng đầu năm công ty tiếp tục thu tiền từ các dự án BĐS 136 Hồ Tùng Mậu và 34 Cầu Diễn, tuy nhiên chưa hoạch toán doanh thu (tuân thủ TT200).
-          Theo tính toán lượng tiền của công ty trừ đi các khoản nợ vay phãi trã lãi là 221 tỷ đồng.
Theo công thức của Lão Trịnh:

Giá trị an toàn = (Tiền và tương đương tiền – nợ vay trả lãi)/ tổng cổ phần = 221 tỷ/8 triệu cp             = 27.7 ngàn/1 cổ phiếu.

-          Điểm mạnh tiếp theo của VC7 chính là TSCĐ đã được khấu hao gần hết (70%) và phần lớn tài sản đã khấu hao hết vẫn còn sử dụng được, khoảng 42.3 tỷ đồng
-          Ngoài ra, tôi chỉ xin lưu ý tới 2 vấn đề:
Một là, chi phí quản lý DN tăng mạnh trong 2 quý đầu năm
Hai là, khoản nợ vay của công ty là 29 tỷ từ cán bộ nhân viên là dư thừa, là một hình thức gửi tiết kiệm của BQT vào công ty.
Tuy nhiên, những vấn đề này là không đáng kể với một doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh như VC7.

Định giá
-          Theo dòng thu nhập thì chúng tôi ước tính EPS 2015 của VC7 khoảng 2.5k/cp, với P/E năm 2015 khoảng 7-8 lần thì giá của VC7 2015 khoảng 18-20k/cp
-          Theo phương pháp của Lão Trịnh thì thậm chí VC7 có thể vượt lượng tiền mặt hiện có của doanh nghiệp, giá trị có thể từ 25-30k/cp.

Cách tính giá cổ phiếu sau khi chuyển đổi trái phiếu

Một chủ đề khá dai dẳng đó là tính EPS của DN thế nào cho đúng, cũng như việc điều chỉnh giá khi DN chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu.
Bài viết này nhấn mạnh đến sự cần thiết phải sửa đổi Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 30 (VAS 30) và một số quy định khác để làm nổi bật cách tính EPS và minh bạch báo cáo tài chính cho NĐT.

Thời điểm để tính việc tăng vốn
VSA 30 hướng dẫn khá chi tiết cách tính khối lượng cổ phiếu phát hành bình quân.
Thứ nhất, về thời điểm tính vốn bình quân gia quyền đối với việc phát hành cho cổ đông hiện hữu. Tại đoạn 19 của VSA 30 quy định: "Cổ phiếu phổ thông được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu kể từ ngày có thể nhận được khoản thanh toán cho cổ phiếu đó".
Tuy nhiên, trên TTCK Việt Nam hiện tại, việc phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu gồm có các ngày sau cần phải lưu ý: ngày giao dịch không hưởng quyền, ngày chốt danh sách, ngày thanh toán, ngày giao dịch chính thức của cổ phiếu phát hành thêm. Tại ngày giao dịch không hưởng quyền, giá cổ phiếu đã bị điều chỉnh. Do đó, ngày thanh toán cổ phiếu không bị điều chỉnh giá. Vì vậy, theo ý kiến của người viết, việc tính số ngày lưu hành bình quân của cổ phiếu phải tính từ ngày giao dịch không hưởng quyền. Còn khối lượng cổ phiếu phát hành thêm sẽ tính chốt tại ngày thanh toán, để loại bỏ các cổ phiếu không được đặt mua hết hay phát sinh cổ phiếu lẻ. Quy định tại đoạn 19 nêu trên chỉ nên áp dụng đối với việc phát hành cho cổ đông chiến lược, cán bộ - công nhân viên.
Thứ hai, về thời điểm tính vốn bình quân gia quyền đối với việc phát hành cổ phiếu trả cổ tức và phát hành cổ phiếu thưởng. Điểm b, đoạn 19 của VSA 30 quy định: "Cổ phiếu phổ thông được phát hành thay cho việc tính trả cổ tức của cổ phiếu phổ thông hay cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi cổ tức được chuyển đổi thành cổ phiếu".
Tại phần ví dụ điểm c, khoản 2.2, phần hướng dẫn VSA 30 ban hành kèm theo Thông tư số 21/2006/TT-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính quy định đã nhầm lẫn khi viết rằng: "phát hành cổ phiếu thưởng từ lợi nhuận chưa phân phối". Theo quy định tại Thông tư 18/2007/TT-BTC, cổ phiếu thưởng là cổ phiếu được phát hành từ nguồn thặng dư vốn của công ty và chỉ được chia sau khi dự án mà công ty phát hành vốn để sử dụng đã đi vào hoạt động được 3 năm. Do đó, theo quan điểm của người viết, cả VSA 30 và Thông tư 21 nên có sự chỉnh sửa lại cho phù hợp.
Đối với việc phát hành cổ phiếu thưởng từ nguồn thặng dư vốn thì việc tính thời gian lưu hành của cổ phiếu phải bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm tài chính đó, do khoản vốn đó đã tồn tại vượt quá 1 năm trên bảng cân đối kế toán của công ty.
Đối với việc phát hành cổ phiếu trả cổ tức từ nguồn lợi nhuận để lại của năm tài chính, thì thời gian lưu hành của cổ phiếu cần phải có sự phân biệt:
- Nếu nguồn trả cổ tức là từ lợi nhuận để lại của các năm tài chính trước đó, thì thời gian lưu hành phải tính từ ngày đầu tiên của năm tài chính.
- Nếu nguồn trả cổ tức là tạm ứng từ lợi nhuận để lại từ năm tài chính hiện hành thì ngày lưu hành của cổ phiếu phải tính từ ngày giao dịch không hưởng quyền. Bởi lẽ, vào ngày đó, giá tham chiếu của cổ phiếu đã bị điều chỉnh và không phải tất cả lợi nhuận đó đều có được từ ngày đầu tiên của năm tài chính hiện hành.
Yêu cầu trình bày EPS và cách tính EPS
Theo quy định tại đoạn 60 của VSA 30 thì công ty mẹ cũng phải trình bày EPS. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Thông tư 21/2006/TT-BTC, "công ty cổ phần là công ty mẹ phải trình bày cáo cáo tài chính hợp nhất thì chỉ phải trình bày chỉ tiêu EPS trên báo cáo tài chính hợp nhất, mà không phải trình bày trên báo cáo tài chính riêng".
Theo quan điểm của người viết, bắt buộc phải trình bày chỉ tiêu EPS trên cả hai loại báo cáo tài chính (báo cáo của công ty mẹ và báo cáo hợp nhất) để NĐT được biết, ít nhất là để giải thích cho trường hợp trả cổ tức năm 2009 của Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (VGC). Cụ thể, VCG ra quyết định chia cổ tức năm 2009 với tỷ lệ 12% bằng tiền mặt, trong khi quỹ lợi nhuận sau thuế trong báo cáo tài chính hợp nhất là một số âm, nhưng lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính của công ty mẹ thừa để trả cổ tức.
Về cách tính khối lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong năm trên thuyết minh báo cáo tài chính, để NĐT hiểu rõ hơn cách tính EPS của DN và có điều kiện kiểm tra lại, cần thiết phải bắt buộc trình bày cách tính này, đặc biệt trong điều kiện các DN đua nhau phát hành cổ phiếu. 
Việc pha loãng giá cổ phiếu khi chuyển đổi trái phiếu
Tại Việt Nam, hiện chưa có hướng dẫn cụ thể nào mang tính pháp lý đối với việc tính giá pha loãng của cổ phiếu khi DN phát hành trái phiếu chuyển đổi. Theo quan điểm của người viết, nên tính giá pha loãng của cổ phiếu tại thời điểm trái phiếu trở thành cổ phiếu như sau:
Giá pha loãng  = (T*PCB + S*PS)/(T +S)
Trong đó:
  • T: Khối lượng cổ phiếu được chuyển đổi từ trái phiếu
  • PCB: Giá chuyển đổi
  • T*PCB: Tổng giá trị phát hành trái phiếu chuyển đổi
  • S: Khối lượng cổ phiếu hiện hành trước khi chuyển đổi trái phiếu
  • PS: Giá thị trường của cổ phiếu tại ngày trước ngày chuyển đổi
  • T+S: tổng khối lượng cổ phiếu lưu hành sau khi chuyển đổi.
Giá pha loãng của cổ phiếu khi chuyển đổi trái phiếu có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá thị trường của cổ phiếu trước khi chuyển đổi.
Ví dụ: Nếu giá chuyển đổi của cổ phiếu được quy định từ khi phát hành là 36.500 đồng, trong khi giá thị trường của cổ phiếu là 27.000 đồng, tổng giá trị trái phiếu chuyển đổi đã phát hành là 365 tỷ đồng, tổng khối lượng cổ phiếu trước khi chuyển đổi là 10 triệu đơn vị (mệnh giá 10.000 đồng/CP), thì giá pha loãng của cổ phiếu sẽ là 31.750 đồng. Công thức tính như sau:
Giá pha loãng = (365 tỷ + 270 tỷ)/(10.000.000 + 10.000.000) = 31.750

Dịch vụ Thiết kế websiteDịch vụ seo CIP giúp cho thương hiệu của bạn tiếp cận thị trường online.